Xót cho phận Tài nhân: Sống kiếp hẩm hiu – thác nhận thiệt thòi

0
337

Thương phậm Tài nhân lẻ loi chốn kinh kỳ

Hậu cung ba nghìn giai lệ là chủ đề muôn thủa của các nhà văn cũng như các nhà khiến phim về các triều đại Phong kiến đã từng còn đó trong lịch sử của loài người. Vào thời nhà Nguyễn, tước vị Tài nhân là bậc thứ 9 trong các bậc cung giai, gọi là Cửu giai Tài nhân, đây là bậc phải chăng nhất và basic nhất của 1 tần phi thời Nguyễn. Dưới chế độ nhà Nguyễn, cũng như các quan có cửu phẩm, thì các bà cũng có cửu giai: nhất giai phi, nhị giai phi, tam giai tân, tứ giai tân, ngũ giai tiếp dư, lục giai tiếp dư, thất giai quý nhân, bát giai mỹ nhân, cửu giai tài nhân. Từ tiếp dư trở lên thì được gọi bằng bà, từ quý nhân trở xuống thì chỉ gọi bằng chị. Dưới tài nhân là tài nhân vị nhập giai, nghĩa là những người đang chầu chực được tuyển khiến tài nhân, xuống dưới nữa là cung nga thế nữ, nghĩa là kẻ hầu người hạ, được gọi chung 1 tiếng là cung nhân.

Ta thường nghe câu nhắc: đưa con vào nội, câu ấy có nghĩa là vĩnh viễn không còn bao giờ trở về thăm nhà nữa. Ta thấy rằng tương tự chế độ của triều Nguyễn còn hà khắc hơn cả Trung Quốc. Hậu cung triều Nguyễn và những câu chuyện thâm cung bí sử hầu như chơi được sử sách biên chép nhưng lại được biết qua những câu chuyện truyền mồm của các nhân vật đã từng sống cùng thời điểm hoặc sống trong hậu cung. Ở Huế từng truyền tụng câu ca dao:

Ngọ Môn năm cửa chín lầu,

Một lầu vàng tám nhà chứa,

Ba cửa thẳng hai cửa vòng vèo,

Sinh em ra khiến phận gái,

Chớ nên hỏi chốn kinh kì mà khiến chi…

Đã mang thân phận nữ nhi thì không nên biết đến chốn kinh kì, hay chính xác hơn là không nên vì vinh hoa phú quý, quyền cao chức trọng mà như những con thiêu thân lao vào hậu cung của các bậc đế vương để đổi lấy 1 cuộc sống lắm tai ách, bất trắc. Bước vào hoàng cung là những thiếu nữ thanh xuân, tuổi xanh, thiện lương còn bỡ ngỡ trước cuộc thế. Tuy nhiên, cuộc sống đầy mưu mô thủ đoạn của chốn cung cấm đã biến những thiếu nữ thanh thuần trở thành những người lắm mưu, nhiều kế, tay dính máu tanh. Thậm chí là 1 cuộc sống bơ vơ, buồn đau, đánh mất cả tuổi thanh xuân vì không được ân sủng của hoàng thượng.

Cung phi của các vị vua triều Nguyễn đầy đủ đều là đàn bà của các vị quan trong triều đình. Sự hậu thuẫn của gia tộc cũng chính là 1 trong những cội nguồn để các bà trong cung Nguyễn nhận được sự sủng ái của các bậc đế vương. Những cuộc hôn nhân này cũng chính là sự thăng bằng quyền lực giữa các thần thế trong triều, nhằm ổn định diễn biến chính trị của đất nước. Cho dù mục đích phía sau của những cuộc hôn nhân này là gì thì đầy đủ những cô gái này đã đánh đổi tuổi thanh xuân và nước mắt của họ để đổi lấy 1 cuộc sống hoặc là quyền cao chức trọng, mẫu bằng tử quý, hoặc là bơ vơ, phòng không gối chiếc cho đến cuối cuộc thế. Những người đàn bà 1 khi đã bước chân vào cung cấm thì chỉ có đi mà chẳng thể quay lại. Cả cuộc thế, cả căn số, dù hạnh phúc hay xấu số, dù quyền cao chức trọng hay cô lẻ loi bóng, ảo não u buồn… phần lớn chỉ phụ thuộc vào 1 người độc nhất: nhà vua!

Xot cho phan Tai nhan: Song kiep ham hiu - thac nhan thiet thoi

Lăng vua Tự Đức (ảnh internet)

Cũng bởi ước mơ được 1 ngày dựa mạn thuyền rồng, mà những thảm kịch, những nuối tiếc nuối và cả những ai oán của các nữ nhân chốn hậu cung vẫn cứ mãi tiếp diễn. Có những người được vua sủng ái thì hưởng tột cùng quang vinh, hạnh phúc nhưng cũng có những người mang nỗi buồn bơ vơ, chẳng thể than thở cùng ai. Những phi tần dù được hoàng thượng sủng hạnh hay chưa được sủng hạnh, nhưng khi vua thăng hà cũng phải theo hoàng thượng đến nơi an nghỉ chung cuộc để phụng thờ hương khói cho đến cuối cuộc thế. Ở Huế còn có câu thành ngữ “đưa con vô Nội” để chỉ thân phận của các cô gái chốn cung cấm, 1 khi đã bước vào cung thì không mong ngày trở ra. Đưa con vô Nội lâu ngày đã trở thành 1 câu nhắc cửa mồm của người Huế khi nhắc đến 1 sự việc có đi mà không có lại, cũng giống như đưa con vô Nội là không mong có ngày gặp lại. Có 1 số cung phi chỉ thực thụ bước chân ra khỏi cung cấm sau khi triều Nguyễn cáo chung và sống thầm lặng cho đến cuối cuộc thế. Một số sau khi ra khỏi cung tuy vẫn là gái tân nhưng tuổi xanh và thời thanh xuân thì đã gởi lại trong Tử Cấm Thành.

Nhà Nguyễn cũng đặt ra các quy định trông nom không phờ phạc hay bơ phờ cho các cung nhân. Khi đau yếu, bệnh tật, họ phải ra khỏi hoàng cung để dưỡng bệnh tại Bình An Đường. Hiện nay, trong bộ máy kiến trúc triều Nguyễn có hai nhà Bình An Đường, 1 ở bên ngoài, góc Đông Bắc Hoàng Thành (đường Đặng Thái Thân) và 1 ở bên ngoài lăng Tự Đức, gần cửa Vụ Khiêm. Hai nhà Bình An Đường này là nơi dưỡng bệnh (nếu bệnh nhẹ) và chờ chết (nếu bệnh nặng) của các hoạn quan và cung nhân chốn hậu cung công đoạn nhà Nguyễn. Bình An Đường bên ngoài Hoàng Thành đã được trùng tu vào năm 2003 nhưng Bình An Đường của Lăng Tự Đức hiện chỉ còn vết tích của la thành và 1 cổng vào còn khắc dòng chữ Bình An Đường Môn.

Phía sau khuôn viên Bình An Đường Lăng Tự Đức, hiện vẫn còn 15 ngôi chiêu an của các bà vợ vua Tự Đức với nhà bia và la thành bao vòng vèo, dân địa phương gọi đây là khu lăng chiêu an 15 Liếp (hay chiêu an các bà). Khu lăng chiêu an này hầu như bị bỏ trống, hương khói của khu lăng chiêu an đều do người dân chung vòng vèo điếu phúng, 1 vài lần cũng có thân nhân và người trong hoàng thất Nguyễn đến viếng thăm. Trong 15 ngôi chiêu an ở tại đây, chỉ có 2 ngôi chiêu an là được thân nhân đến tôn tạo, lau trùi. Đến đời Tự Đức thì hoàng thượng thể chất yếu nhược, không có năng lực sinh con nối dõi và cũng đến thời điểm này sự truyền thừa theo dòng trưởng (con người vợ chính) của triều Nguyễn xem như kết thúc. Hương tàn, khói lạnh là thực trạng của khu lăng chiêu an các bà theo phụng thờ hương khói khi vua Tự Đức thăng hà. Sống thì phòng không gối chiếc, chết lại mồ hoang cỏ lạnh là căn số của không ít nữ nhân chốn hậu cung thời nhà Nguyễn.

Và bà Cửu giai tài nhân họ Lê vừa được phát hiện huyệt chiêu an để khiến bãi đậu xe, là 1 trong số ấy. Với cuộc thế buồn đau, bơ vơ chốn kinh kì. Và ngày nay, sau nhiều năm được mai táng, cái tên Cửu giai tài nhân họ Lê lại 1 lần nữa được xướng lên, nhưng là giữa những ầm ĩ không đáng có.

Thác đi vẫn chẳng được im phần

Một sự đáng nuối tiếc, phải nhắc là rất đáng nuối tiếc khi bãi đỗ xe được dựng lên để người dân thăm quan lăng vua Tự Đức, tức người chồng của vị Cửu gia này, lại nằm đúng nơi an nghỉ của bà. Thôi thì phận nữ nhi, có nhẽ dưới cửu nguim bà Cửu giai cũng sẽ cam nốt phần còn lại của mình, ấy là giành phần lớn cho chồng. Người lúc sống đã là chủ thế gian, lúc thác đi cũng còn lại tăm tiếng muôn phần.

Chỉ buồn 1 nỗi, ông Nguyễn Thiên Bình, Phó Giám đốc Sở Văn hóa và Thể thao tỉnh Thừa Thiên – Huế đã có một số nguồn tin đến báo chí về vụ việc mộ của vợ vua triều Nguyễn. Ông ấy cho rằng, tấm bia và dấu tích mộ tìm thấy không có giá trị mỹ thuật, kiến trúc tiêu biểu, không phải là nhân vật lịch sử… Còn ông Nguyễn Dung, Phó Chủ tịch Ủy ban dân chúng tỉnh Thừa Thiên – Huế thì san sẻ, với tư nhân ông rất nuối tiếc và rất trăn trở về câu chuyện của khu lăng bà Tài nhân. Tuy vậy, vấn đề ngày nay phải ứng xử với các khu lăng chiêu an thế nào, bởi lẽ không phải chỉ có khu lăng chiêu an của bà Tài nhân mà còn rất nhiều khu lăng khác của hoàng tộc và quan lại nhà Nguyễn. Nhưng dù khiến gì thì cần phải có sự tôn trọng. “Không ai ước ao nhà mình phải ra đi, không ai ước ao mồ mả ông cha bị di dời. Nếu biết đó là mồ mả thì không ai dám đặc thù là người Huế. Ông nào người Huế biết đó là mồ mả mà thì không dám động chạm vì vấn đề linh tính, mẫn cảm”, ông Dung cho hay. Thế nhưng, chính quyền vẫn quyết di dời ngôi chiêu an, để khiến bãi đỗ xe.

Xot cho phan Tai nhan: Song kiep ham hiu - thac nhan thiet thoi

Bia chiêu an của Cửu giai tài nhân họ Lê.

Trở lại với quan điểm rất tâm huyết của PGS.TS Đỗ Bang – Chủ tịch Hội Khoa học lịch sử Thừa Thiên – Huế, ông Bang rất tâm cảnh tỏ bày rằng ngôi chiêu an ấy mặc dầu chưa được xác nhận di tích nhưng xét về mặt lịch sử thì nó cũng là 1 phòng ban của di tích, có trị giá lịch sử, và đặc thù là gắn với tổng thể của di tích lăng vua Tự Đức, cũng như các di tích lịch sử triều Nguyễn tại Huế.

Theo như chỉ tiêu, khu lăng chiêu an của bà Tài nhân sẽ được di dời đến gần vị trí của lăng bà Học Phi (1 người vợ khác của vua Tự Đức) cách đó gần 200m. Hiện tại khu lăng của bà Học Phi cũng đã bị tổ chức thi công khiến tác động đến sát mép tường thành. Một ngôi chiêu an được xây ở 1 vị trí mới thì chỉ dùng cho được việc linh tính, thờ cúng còn trị giá về mặt vị trí, về mặt lịch sử sẽ không còn. Chắc nhiều người sẽ hiểu được điều đó.

Hội đồng trị sự Nguyễn Phước tộc đã gửi văn bản đến cơ quan chức năng giãi tỏ ước ao được vun đắp ngôi chiêu an lâm thời cho bà Cửu giai Tài nhân họ Lê. Tuy nhiên, chính quyền lại không cho phép con cháu trong dòng tộc vun đắp chiêu an lâm thời bằng xi măng. Trước tình cảnh này con cháu Nguyễn Phước tộc đành xếp gạch, đổ cát để khiến chiêu an lâm thời và đào hào hạn chế nước mưa để đùm bọc chiêu an bà vợ vua Tự Đức. Buồn thương cho 1 phận Tài nhân, lúc sống đã chịu nhiều hẩm hiu, lúc thác cũng nhận lấy lắm thiệt thòi.

(*) Trong bài viết có dùng tư liệu của nhiều nhà nghiên cứu về nhà Nguyễn.

Tiêu Dao