Vì sao người xưa lại xem trọng sự trung thực và danh dự đến vậy?

0
387

Trử Toại Lương là quan chép sử của vua Đường Thái Tông triều đại nhà Đường (618 -907). Ông biên chép lại phần nhiều những lời nhắc và việc làm cho của vua Thái Tông 1 cách chi tiết. Một lần Đường Thái Tông hỏi Trử Toại có ghi lại những lời nhắc hoặc hành vi không tốt của vua hay không.

Trử Toại Lương giải đáp: “Thần thật không dám ghi lại.”

Tể tướng Lưu Dực nhắc: ”Dù Toại Lương không biên chép lại, thì mọi người cũng đều biết, và truyền lại thôi.”

Vua Thái Tông giải đáp “Đúng vậy”.

Đoạn đối thoại này đã được ghi lại trong ”Tư Tri Thông Giám”, 1 cuốn sử ký khổng lồ được thực hành trong suốt triều đại Bắc Tống (960 -1127). Tác phẩm này nhắc tới sự thông thái và trí óc trong trị quốc an dân qua những bài học đạo đức từ các triều đại trước.

Cuốn sách này có 294 chương, cái tên Tư Trị Thông Giám có thể diễn nghĩa ra là “tấm gương toàn diện hỗ trợ việc trị nước”. Cái tên muốn nhắc đến tác dụng của cuốn sách – như 1 tấm gương đề đạt phần nhiều những việc làm cho tốt xấu trong lịch sử để giúp các nhà trị quốc mai sau soi vào và hạn chế lặp lại những sai trái của người đi trước.

Vi sao nguoi xua lai xem trong su trung thuc va danh du den vay?

Ghi lại cho hậu thế

Người Trung Quốc rất kiêu hãnh vì đã duy trì được việc biên chép lịch sử liên tục trong 5000 năm. Hoàng đế chọn quan chép sử để ghi lại những sự kiện lớn xảy ra như chiến tranh, thảm họa đột nhiên, và những vấn đề về ngoại giao, kinh tế. Các sử gia cũng biên chép chi tiết lời nhắc và hành động của thánh thượng trong việc chỉ đạo các vấn đề của quốc gia.

Đây là công việc đặc thù đòi hỏi sự chân thực đối với lịch sử. Và quả tình, các sử gia đã trình bày sự trung thành của mình ưng ý kiêu dũng biên chép lại chân thực những lời nhắc hay việc làm cho của thánh thượng, dù đó là tốt hay xấu.
xưa, người Trung Quốc đã rất tin tưởng vào lịch sử, và đã sử dụng những sự kiện được chép lại để giám định bây giờ và vun đắp các quy luật để vận dụng cho tình cảnh bây giờ.

Trong các công trình lịch sử vĩ đại của Trung Quốc, “Tư Trị Thông Giám” là 1 trong những cuốn sách vĩ đại nhất của lịch sử đế vương. Cuốn biên niên sử này ghi lại 1,362 năm qua khoảng 16 triều đại, từ năm 403 trước Công Nguyên tới 959 sau Công Nguyên.

Cuốn sách này được soạn bởi tể tướng và sử gia Tư Mã Quang (1019 -1086).

Ông đã chọn lọc những sự kiện lịch sử vượt trội, đóng góp các quan điểm để truyền lại các lệ luật Khổng giáo với hi vọng rằng thánh thượng đương triều và những người kế vị sau này sẽ trị vì với lòng nhân từ và hạn chế phạm điều ác.

“Vua sáng sẽ có tôi hiền”

Một ví dụ là lời nhận xét của Tư Mã Quang trong 1 câu chuyện của “Tư Trị Thông Giám” về triều đại vủa Thái Tông trong thời kì có rất nhiều quan lại nhận đút lót.
Buồn bực vì điều này, Đường Thái Tông đã bí mật không thể bật mí ra lệnh thăm dò sự thanh liêm của 1 số vị quan.

Khi phát hiện 1 viên quan nhận đút lót là 1 cuộn lụa, vua muốn chém đầu ông ta, nhưng tể tướng Bùi Củ đã đứng ra xin và nhắc.

“Thần e rằng điều này không hợp với tiêu chí sử dụng đức để trị người, và quy luật chính trực để có thể thúc đẩy hành vi tốt.”

Thái Tông chấp nhận và khen ngợi Bùi bởi lý luận và kiêu dũng dám nhắc sự thật.

Tư Mã Quang giám định sự việc từ 1 góc độ khác. Ông sử dụng nó để làm cho 1 ví dụ đạo đức để giúp các thánh thượng tham khảo khi xử lý những vấn đề của họ.

“Người xưa nhắc, vua sáng sẽ có tôi hiền,” Tư Mã nhận xét.

Bùi Củ từng là 1 tên quan nịnh thần dưới triều đại nhà Tùy (trước nhà Đường) nhưng lại là 1 tể tướng trung thành của nhà Đường. Không phải vì bản chất của ông đổi thay, mà là do người chủ tướng mà không muốn nghe can gián về sai trái của mình có thể biến lòng trung thành trở thành sự siểm nịnh, khi mà 1 người thống trị giám định cao sự chính trực chân thực sẽ biến sự siểm nịnh thành lòng trung thành,” Tư Mã Quang nhận xét.

“Vì vậy tôi và mọi người biết rằng người thống trị như 1 chiếc cột đo mặt trời (1 cái cột sử dụng để đo vị trí của mặt trời hay các giờ trong ngày), và quan giống như chiếc bóng. Khi dịch chuyển chiếc cột, cái bóng cũng theo sau.”

Lời nhắc phải đi đôi với việc làm cho

Tư Mã Quang chủ trương “giữ tâm ngay chính và tu dưỡng đạo đức,”. Ông tà tà 1 hình mẫu điển hình của Nho giáo, trình bày phần nhiều lòng trung thành, hiếu với ông bá cha mẹ, ngay thẳng và liêm chính.

Ông tin rằng 1 người ngay thẳng sẽ có sự chân thực trong tâm, và tự ông luôn giữ vững sự chân thực, lời nhắc luôn đi đôi với việc làm cho.

Ông đã từng diễn đạt bản thân như sau:

Tôi chẳng có gì đặc thù, phần nhiều những gì tôi làm cho là theo lương tâm của mình, và tôi không có gì phải che đậy.”

Một ví dụ sự chân thực của ông được ghi lại là việc ông quy chế bán con ngựa của mình. Khi nhắc về con ngựa, cùng với đặc điểm của nó ông cũng nhắc rằng con ngựa của ông hay bị bệnh trong mùa hè.

Người quản gia kinh ngạc hỏi ông: “Mọi người thường gắng sức dấu khuyết thiếu khi bán hàng. Ai sẽ nhắc với người khác về căn bệnh mà chẳng ai trông thấy chứ?”

Quang giải đáp:

“Tiền bạc, bao lăm cũng không đủ để đổi lấy danh dự và chân thực. Danh dự và chân thực mới là cái mà tôi và mọi người chẳng thể để mất”.

Nghe được điều này, người quản gia cảm thấy hổ ngươi.

Các câu chuyện về sự chính trực của Tư Mã Quang đã khuyến khích rất nhiều người từ phần nhiều các phân khúc xã hội sống theo các tiêu chí đạo đức cao hơn.

Vi sao nguoi xua lai xem trong su trung thuc va danh du den vay?

Tư Mã Quang.

Có 1 câu nhắc nhắm thẳng vào những người có hành vi sai trái: ”Thật đáng hổ ngươi! Ngươi chưa nghe chuyện Tư Mã Quang hay sao?”

St (ĐKN)