Vì sao lăng mộ Thành Cát Tư Hãn vẫn không hề lộ dấu vết sau suốt 800 năm?

0
381

Lăng chiêu tập Tần Thủy Hoàng, Thập Tam Lăng triều Minh (lăng chiêu tập 13 vua đời Minh), lăng chiêu tập triều Thanh… đều là những nơi chôn cất hoàng thượng sau khi chết. Sự rộng lớn quy mô của lăng chiêu tập Tần Thủy Hoàng cùng với rất nhiều vật chôn theo cũng khiến cho cõi trần sau sửng sốt, tán thán không thôi. Tuy vậy, chỉ có lăng chiêu tập của các hoàng thượng triều Nguyên trước sau vẫn nằm trong vòng bí mật không thể bật mí.

Trong quyển “Thảo Mộc Tử” của Diệp Tử Kỳ sống vào thời nhà Minh có biên chép lại: Sau khi hoàng thượng triều Nguyên thăng hà, “lấy chiêu tậpt đoạn của thân cây lớn chẻ khiến đôi, đục rỗng bên trong, kích cỡ lớn như hình người khiến cỗ ván, đặt di thể vào trong đó, rồi quét sơn. Sau khi mọi việc xong xuôi, lấy vàng đúc thành ba sợi dây, quấn chặt ba vòng (hai đầu và chính giữa)”.

Người ta đào chiêu tậpt cái hố sâu, cho cỗ ván vào đó chôn cất, “điều khiển hàng vạn con ngựa dẫm đạp cho bằng phẳng. Giết chết lạc đà con ở trên nấm chiêu tập, khu chiêu tập được hàng ngàn kỵ binh trông coi. Năm sau cỏ xanh mọc lên, mọi người gỡ bỏ lều vải rời đi. Lúc này mặt đất đã bằng phẳng, người tương đốic nhìn vào cũng khó mà trông thấy được”.

Vi sao lang mo Thanh Cat Tu Han van khong he lo dau vet sau suot 800 nam?(Ảnh minh họa: theo kienthuc.net.vn)

Năm đó, khi Thành Cát Tư Hãn từ trần chính là đã tiêu dùng loại phương thức chôn cất này. Theo biên chép, sau khi Thành Cát Tư Hãn bệnh mất ở Ninh Hạ, di thể của ông được đưa đến nơi nào đó dưới núi Khentii, sa mạc phía Bắc, trên mặt đất có đào chiêu tậpt cái hố sâu bí mật không thể bật mí chôn cất. Di thể của ông được đặt trong cỗ ván gỗ được khiến từ khúc gỗ lớn mà phần giữa của khúc gỗ đã được nạo sạch.

Chiếc cỗ ván gỗ được đưa xuống, lấy đất lấp lại, sau đó “vạn con ngựa đạp bằng mặt đất“. Vì không để cho người ngoài nhìn ra dấy vết tích đã từng đào bới, còn phải tiêu dùng lều vải phong bế gần như địa bàn chung lòng vòng lại, đợi đến khi lớp cỏ trên mặt nơi chôn cất đã mọc xanh rì, không tương đốic gì với cỏ xanh chung lòng vòng, mới dọn lều vải rời khỏi, tương tự địa điểm chôn cất sẽ không bị bật mí nữa. Đó chính là nguyên nhân tại sao cho đến nay, lăng chiêu tập của Thành Cát Tư Hãn vẫn chưa từng được phát hiện sau gần 800 năm từ khi thời điểm ông từ trần (năm 1227).

Sau khi hoàn tất mọi hồ sơ, người Mông Cổ sẽ giết giết thịt chết chiêu tậpt con lạc đà con ở trên bề mặt ngôi chiêu tập, lúc này, lạc đà mẹ được dẫn đi cùng với lạc đà con này sẽ vô cùng không vui vẻ lớn tiếng kêu lên, đồng thời nhớ rõ địa điểm nơi này. Năm sau khi đến tế bái, dắt theo con lạc đà mẹ này đến, ở nơi giết giết thịt chết con lạc đà con, lạc đà mẹ sẽ không vui vẻ chảy nước mắt. Như vậy, những người đến tế bái có thể sắm được địa điểm chính xác của mồ mả.

Vi sao lang mo Thanh Cat Tu Han van khong he lo dau vet sau suot 800 nam?(Ảnh minh họa)

Trước khi nhà Nguyên thành lập, người Mông Cổ vốn có tập tục chôn cất độc đáo của riêng mình, đặc điểm này là giản tiện việc chôn cất. Người Mông Cổ vốn là tộc người du mục sống trên thảo nguyên, họ vốn không có nơi ở khăng khăng, lối sống tương đối đơn thuần thực dụng chủ nghĩa. Đặc biệt là người Mông Cổ trong những năm mở mang chiến tranh trên quy mô lớn, nghi tiết chôn cất lại càng phát triển thành đơn thuần hơn bất cứ lúc nào.

Khi chôn cất, họ để cho người chết ngồi ở chính giữa chiếc lều vải được tiêu dùng khi còn sống, chung lòng vòng là những người cúng tế vây lòng vòng tiến hành mơ ước, vật chôn theo gồm có ngựa, cung tên và chiếc bàn có bày vẽ giết thịt sữa, sau rốt đều cho vào trong nấm đất. Mục đích là để người chết khi đến sinh sống ở chiêu tậpt toàn cầu tương đốic thì có lều vải để ở, có ngựa để cưỡi, có giết thịt để ăn và có sữa để uống.

Sau khi Hốt Tất Liệt dựng nên nhà Nguyên, thực hiện theo pháp luật người Hán, cũng dần dần chịu tác động của tập tục chôn cất của người Hán, khởi đầu tiêu tiêu dùng cỗ ván gỗ trong việc chôn cất, nhưng cỗ ván gỗ được tiêu dùng cũng không giống như của người Hán. Người chết sau khi được đưa vào cỗ ván, hai miếng cỗ ván dính liền với nhau, lại được trở thành chiêu tậpt khúc gỗ tròn, sau đó “lấy đinh sắt đóng chặt lại“.

Dù đã vào khiến chủ Trung Nguyên, người Mông Cổ nhập liệm vẫn đơn thuần, tằn tiện giống như trước, áo liệm tất cả vẫn là áo quần thường nhật hay mặc, vật dụng chôn theo cũng vẫn rất ít, tất cả là các món vũ khí mà người chết yêu thích lúc còn sống, ví như những thứ cung tên, đao kiếm…

Dù vậy, hoàng thượng triều Nguyên sau khi thăng hà so với tôn thất và giới quý tộc thường ngày vẫn có dị biệt chút ít. Sau khi hoàng thượng thăng hà trước nhất cần có chiêu tậpt nghi tiết chôn cất, vật chôn theo cũng phải nhiều hơn chiêu tậpt tí. Chỉ là khi mà chôn cất di thể hoàng thượng không cho phép quan viên người Hán tham dự, cũng sẽ không vun đắp những công trình kiến trúc quy mô lớn trên mặt đất, không lập miếu thờ công đức và bia chiêu tập, mọi thứ nhìn vào đều rất đơn thuần.

Ngoài ra vì để không lưu lại những dắt mối và dấu tích có thể khiến cho những tên trộm đào chiêu tập phát hiện được, những biên chép về địa điểm chôn cất cũng rất ít oi, đến nỗi khiến cho người ta cảm thấy nhà Nguyên vốn chẳng hề còn đó lăng chiêu tập hoàng thượng. Những biên chép không hoàn chỉnh và biên tạo có mục đích khiến cho cõi trần sau rất khó giảng giải chân tướng về bình diện này. Đây có thể chính là nguyên do hoàng thượng triều Nguyên không có lăng chiêu tập. Mà nguyên không phải không có, chỉ là không có phát hiện ra mà thôi.

ĐKN (t.h)