Tần Thủy Hoàng thực sự có phải là một ‘tên bạo chúa’?

0
379

Như vậy, Tần Thủy Hoàng cũng coi như được thế gian biết rõ rồi thì bất tất gì phải nói thêm về ông ta? Kỳ thực, còn có rất nhiều người chỉ biết về Tần Thủy Hoàng với nhân cách là 1 hình tượng văn chương hay hình tượng dân gian mà lại rất mơ hồ khi nói đến ông với hình tượng là 1 nhân vật lịch sử.

Trong nghiên cứu về lịch sử, các nhà lịch sử học thường nhật chia nhân vật lịch sử làm ba loại: Hình tượng lịch sử, hình tượng văn chương, hình tượng dân gian. Muốn biết rõ, Tần Thủy Hoàng có phải là 1 tên bạo chúa hay không, trước hết tôi và các bạn cần hiểu rõ về ba định nghĩa này.

1. Hình tượng lịch sử là gì?

Hình tượng lịch sử là nhân vật lịch sử được biên chép trong tư liệu trực tiếp. Thời Trung Quốc cổ đại, mỗi 1 triều đại đều có người đảm trách việc biên chép lịch sử và thường được gọi là “Sử quan”. Tại Trung Quốc thời Xuân Thu, có 1 vị Sử quan chuyên đảm trách biên chép việc đại sự của Quốc gia. Đặc biệt là vua của 1 nước thì càng phải biên chép mỗi ngày giống như nhật ký của tôi và các bạn hiện nay, nên cũng có câu “Quân cử tất thư”. Hơn nữa, trong Sử quan còn phân chia thành nhiều chức quan như quan biên chép việc lớn (đại sử quan), quan biên chép việc nhỏ (tiểu truyện quan), quan biên chép việc trong nước (nội sử quan), quan biên chép việc bên ngoài nước (ngoại sử quan). Như vậy, có thể thấy rằng thời Trung Quốc cổ đại, việc biên chép lịch sử là rất nghiêm nhặt, quan biên chép cũng phải rất kỹ lưỡng và vô cùng minh xác.

2. Hình tượng văn chương là gì?

Hình tượng văn chương là việc các nhà văn đời sau dựa vào biên chép lịch sử mà thêm thắt, sửa đổi mà viết lại nhằm uỷ thác cho nhân vật lịch sử và sự kiện lịch sử 1 sinh mệnh mới. Thứ mà tôi và các bạn gọi là tác phẩm, sáng tác… Ví dụ: “Tam Quốc Diễn Nghĩa” của tác giả La Quán Trung. Tác phẩm này được La Quán Trung viết lại dựa theo nguyên tác “Tam quốc chí” của nhà sử học Trần Thọ thời Tây Tấn, Trung Quốc. Trong “Tam quốc diễn nghĩa”, La Quán Trung đã đem những nhân vật lịch sử và những tình tiết cải biến đi rất nhiều, nhằm làm cho câu chuyện thêm quyến rũ và sâu sắc. Khi tác phẩm văn chương đã được cường điệu hóa lên nhiều rồi thì tính chân thật sẽ bị giảm đi. Cho nên, nhân vật trong hình tượng văn chương khăng khăng đã có sự sai biệt lớn so với hình tượng lịch sử.

Tan Thuy Hoang thuc su co phai la mot 'ten bao chua'?

3. Hình tượng dân gian là gì?

Không phải hồ hết những sự kiện lịch sử đều được các nhà văn cải biên thành tiểu thuyết mà là được quần chúng truyền mồm. Trong thời kỳ truyền mồm cũng không khỏi có chút thêm thắt, bịa đặt, gia tăng thậm chí cải biến cả nội dung sự kiện. Hơn nữa, nhiều khi vì để trình bày tiếng lòng, ước nguyện của quảng đại người dân nên người dân cũng tự đặt ra 1 hình tượng dân gian. Ví dụ “Mạnh Khương Nữ khóc Trường Thành” là có ý muốn trình bày tiếng lòng của người dân trong việc phản ảnh sự gian truân nặng nhọc và sự căm phẫn của người dân vì phải vun đắp Trường Thành theo lệnh của Tần Thủy Hoàng.

Vậy, chung kết Tần Thủy Hoàng có đích thực là 1 “tên bạo chúa” không?

Thực sự, từ trước đến nay rất nhiều tác phẩm văn chương đều vun đắp Tần Thủy Hoàng thành 1 nhân vật tàn tệ nhưng là tác phẩm văn chương, thì việc chủ quan cải biến là việc cố nhiên. Vậy hãy xem trong sử sách biên chép lại thì Tần Thủy Hoàng là như thế nào. Rất nhiều nhân sĩ đời sau khách quan nhìn nhận giám định, lại phát hiện Tần Thủy Hoàng trong cách hành xử cũng có những chỗ hợp lý và sáng láng.

Thứ nhất: Thuyết pháp “đốt sách chôn người tài” là có chỗ sai trái

Nói Tần Thủy Hoàng bạo ngược, trong đó có 1 cội nguồn chính là ông “đốt sách chôn người tài”, thiêu hủy kinh điển đạo nho, giết mổ chết nhiều phần tử trí thức. Nhưng mà, câu chuyện này không phải hoàn toàn là sự thật!

Sau khi Tần Thủy Hoàng hợp lực trần gian, để hoàn thiện thiết chế chính trị quốc gia đã chọn tiêu dùng pháp gia của tể tướng Lý Tư làm lý niệm trị quốc, cải sửa chế độ phân đất phong hầu, thiết lập chế độ quận huyện. Nhưng chế độ cách tân này đã bị phòng ban nho sinh tiền ấy kịch liệt phản đối. Đặc biệt là 1 lực lượng nhà nho do Thuần Vu Việt dẫn đầu. Họ có thiên hướng muốn giữ nguyên chế độ phân đất phong hầu mà Vương triều nhà Chu đã ứng dụng trước đó.

Tuy nhiên, Tần Thủy Hoàng không hấp thụ quan điểm này. Một số nho sinh không chịu hài lòng điều này đã trích dẫn 1 số lời thánh hiền trong cổ đại từng nói ra để phê bình diễn biến chính sự đương thời, phản đối cách tân, làm cho Tần Thủy Hoàng cuồng nộ. Thế là, Tần Thủy Hoàng hạ lệnh đốt cháy sách cổ của nho gia, nhắc cả “Tần ký”. Ngoại trừ “Liệt quốc sử ký”, còn lại hồ hết thơ và sách không do tấn sĩ cất giữ thì đều phải đến kỳ hạn giao nộp và đốt hết. Đồng thời những ai dám bàn luận về thơ ca cũng bị đem ra xử quyết, không cho phép tư nhân tự học, ai muốn học phải lấy quan lại làm thầy.

Lúc ấy, công tử Phù Tô và và thừa tướng Vương Quản cũng ra công phản đối cách làm của Doanh Chính. Đồng thời họ kiến nghị Tần Thủy Hoàng tiêu dùng học phái nho gia của Khổng Tử để trị quốc. Tần Thủy Hoàng không nghe. Vì để trấn át nho sinh, ông còn hạ lệnh chôn giết mổ rất nhiều thư sinh, phần tử trí thức.

Phải nói rằng, câu chuyện bên trên so với lịch sử chỉ đúng được khoảng 1 nửa. Việc Tần Thủy Hoàng hạ lệnh đốt cháy sách của nho gia là chuyện có thật. Nhưng, Doanh Chính không chôn sống “nhà nho” mà là chôn sống “thuật sĩ”. Trong “sử ký” của Tư Mã Thiên cũng không có biên chép những lời này.

Thuật sĩ là chỉ những người chuyên đi bói toán, đoán mệnh cho người khác. Trong “Sử ký” có ghi lại, Tần Thủy Hoàng khi về già say đắm với thuật trường sinh bất lão. Thế là, ông cắt cử Lô Sinh và Hầu Sinh thay ông đi sắm tiên dược. Hai người này biết rõ việc sắm kiếm tiên dược là việc cạnh tranh và là việc ngoài kỹ năng, vì vậy sau khi cầm 1 món tiền lớn rời khỏi kinh kì đã bỏ trốn. Sau khi biết việc này, Tần Thủy Hoàng đã vô cùng bức xúc, hạ lệnh bắt hồ hết thuật sĩ trong kinh kì về chôn sống.

Ngoài ra, trong câu chuyện đem định nghĩa của từ “Người đọc sách” đánh đồng với “Người học đạo nho” cũng là sai trái. Thời ấy, “Người đọc sách” được chia thành rất nhiều môn phái như Nho gia, Pháp gia, Đạo gia, Mặc gia… Cho nên, học giả nhà Nho chỉ là 1 môn phái trong số “Người đọc sách” chứ không đại biểu cho hồ hết họ.

Thứ hai: Đối xử quyết tế công thần, không lạm sát người vô tội

Sau khi hợp lực quốc gia, Tần Thủy Hoàng đối xử với công thần không đến nỗi tệ. Ví dụ như Vương Quản là 1 thừa tướng từ thời Lã Bất Vi sau này tiếp diễn kế nhiệm, đảm nhận thừa tướng 20 năm. Vương Quản từng là người đứng đầu trong việc phản đối gay gắt chế độ “phân đất phong quyền” của Tần Thủy Hoàng. Thậm chí, Vương Quản cũng có nhiều lần không đồng ý với những chủ trương của Tần Thủy Hoàng, nhưng không vì vậy mà bị Tần Thủy Hoàng xử phạt.

So với Hán Vũ Đế thời Tây Hán và Tào Tháo thời Tam Quốc thì Tần Thủy Hoàng cũng được cho là vị Hoàng Đế ôn nhu rồi.

Tể tướng Đậu Anh thời Tây Hán đã từng trợ giúp Hán Cảnh Đế bình định quốc gia, có nhiều chiến công hiển hách. Nhưng về sau chỉ vì xúc phạm đến cậu của Hoàng Đế mà bị bỏ tù rồi bị Hán Vũ Đế hạ lệnh xử quyết. Ngoài ra 1 công thần khác là Chủ Phụ Yển đã từng trợ giúp Hán Vũ Đế làm suy yếu thần thế chính trị của chư hầu tại các địa phương nhưng về sau chỉ vì 1 chuyện nhỏ lại bị nghi ngờ là tư thông với chư hầu. Cuối cùng, ông bị Hán Vũ Đế hạ lệnh giết mổ cả gia tộc.

Thời Tam Quốc, Tào Tháo cũng lừng danh là người giết mổ đại thần để làm bá chủ. Tuần Vực chính là người mưu tài nhất trong số những người tài dưới trướng của Tào Tháo. Tuần Vực đi theo Tào Tháo mấy chục năm, giúp Tào Tháo dành được trần gian, là công thần đứng đầu của Tào Tháo. Nhưng sau này Tuần Vực vì phản đối Tào Tháo xưng vương nên đã bị ép phải chết.

So với những điều này thì Tần Thủy Hoàng chí ít cũng là người có tấm lòng quảng đại hơn, ông ta còn có dũng cảm tiếp thụ quan điểm không cùng ý kiến, đối đãi với công thần cũng có chút bao dong, rộng lượng.

Lý Tín là 1 vị tướng quân ở bên Tần Thủy Hoàng. Ông ta từng khoe khoang mà tuyên bố rằng chỉ trong vòng hai, ba tháng sẽ chiếm được nước Sở nhưng chung kết lại bị tướng quân nước Sở đánh cho đại bại mà bỏ về. Sau này, Tần Thủy Hoàng lại 1 lần nữa bổ dụng lão tướng Vương Tiễn đi đánh nước Sở. Tuy nhiên, Tần Thủy Hoàng vẫn cho Lý Tín làm phó soái. Điều này biểu hiện ông rất tín nhiệm đối với hạ thần, tố chất này không phải vị vua nào cũng có.

Cha con Vương Tiễn là những người có công lao rất lớn trong việc giúp Tần Thủy Hoàng giành được trần gian. Từ khi Tần Vương được thành lập, Tần Thủy Hoàng vẫn luôn đối xử tốt và yêu mến gia đình Vương Tiễn. Sau này, Vương Tiễn cũng được an hưởng tuổi già.

Trái trái lại điều này có thể nhắc đến thánh thượng Lưu Bang. Có câu nói về Lưu Bang thế này: “Giang sơn vừa được, công thần tức rơi”. Hàn Tín chính là 1 ví dụ điển hình nhất. Hàn Tín vốn là công thần có công lao lớn trong việc trợ giúp Lưu Bang binh chinh trần gian. Nhưng mà sau khi Hàn Tín trợ giúp Lưu Bang diệt trừ Hạng Võ đã bị chính Lưu Bang lập kế kế và sát hại.

Ngoại trừ Lưu Bang ra, còn có Việt Vương Câu Tiễn thời Xuân Thu. Sau khi xoá sổ Ngô quốc, việc ban đầu mà Việt Vương Câu Tiễn làm chính là giết mổ chết người cùng chung hoạn nạn với mình – đại thần Văn Chủng. Phạm Lãi là người biết trước Việt Vương Câu Tiễn chỉ có thể là “người cùng chung lúc hoạn nạn chứ chẳng thể là người cùng hưởng phúc” nên đã rời xa sớm mà hạn chế được kiếp nạn.

Nhiều người vẫn cho rằng Lưu Bang và Việt Vương Câu Tiễn có tài chính trị lỗi lạc, ý thức vững vàng mà chẳng hề nghĩ rằng về lòng dạ và trí óc thì so với Tần Thủy Hoàng, họ không được sáng láng bằng.

Thứ ba: Từ sau khi hợp lực lục quốc, chưa từng đại thảm sát

Tần Thủy Hoàng thực hành chiến tranh hợp lực quốc gia, kỳ thực số người thương vong là không lớn. Hơn nữa, Tần Thủy Hoàng cũng tiêu dùng nhiều chính sách như câu kéo thu hút hoặc là phương thức hòa bình chứ không phải lúc nào cũng động binh. Tề quốc chính là ví dụ điển hình nhất. Ngoài ra, Tần Thủy Hoàng còn là người có tâm khiêm tốn, lòng khoan thứ, điều này được biểu hiện rõ nhất ở cuộc chiến Yên quốc.

Trước khi thu phục Yên quốc, hoàng thái tử Đan của Yên quốc từng phái Kinh Kha đến sát hại Tần Thủy Hoàng nhưng bị chiến bại. Sau này khi Tần Thủy Hoàng đã thu phục được Yên quốc, ông không vì điều này mà báo thù. Sau khi loại bỏ thiết chế chính trị của Yên quốc, Tần Thủy Hoàng đã ứng dụng chính sách “vỗ về” để đối đãi với người dân Yên quốc, trấn an quần chúng. Thử nghĩ, giả thiết Doanh Chính là 1 tên bạo chúa, khi bị thích khách hành thích tương tự chỉ e rằng người dân vô tội cũng khó mà hạn chế được đại nạn.

Vào thời Tần mạt, Hạng Võ dẫn đầu 40 vạn quân đánh vào thành Hàm Dương, thảm sát hàng loat quần chúng Hàm Dương, thiêu cháy cung A Phòng. Ngọn lửa hừng hực cháy ròng ba tháng trời. Tuy nhiên thế gian sau chỉ ngợi ca Hạng Võ là 1 đại gan dạ, còn đối với việc Hạng Võ giết mổ hàng loạt dân Hàm Dương và đốt cháy cung A Phòng thì coi như thường thấy…

Tháng 9 năm 879 công nguyên, Hoàng Sào đánh chiếm Quảng Châu. Sau khi đánh chiếm Quảng Châu, Hoàng Sào sát hại 12 vạn dân trong thành đồng thời san bằng Quảng Châu, nơi từng là trọng tâm kinh doanh với nước ngoài sầm uất thời đó.

Thành Cát Tư Hãn, 1 đời tự hào cũng không ngoại lệ. Sau khi xoá sổ Tây Hạ liền xuôi nam, tiến vào triều đại Nam Tống. Dân chúng bên con đường bị cướp bóc không còn thứ gì. Sau khi Mông Cổ hợp lực, cũng không đối xử ngang hàng mà phân cấp người dân thành 4 loại. Người Mông Cổ là cấp 1, người Sắc Mục là thứ hai, người Hán phương bắc là thứ ba, người phương nam là thứ 4.

Tần Thủy Hoàng sau khi hợp lực Trung Quốc không làm theo cách đó. Ông tiêu chí luật pháp Tần triều, đối xử với người dân như nhau, hồ hết đều ngang hàng. Hơn nữa, Tần Thủy Hoàng sau khi hợp lực lục quốc cũng không giết mổ chết lục quốc quân vương mà là đưa họ đến Hàm Dương giam lỏng, cho họ 1 con con đường sống. Hành động này, đối với rất nhiều vị Hoàng đế tài đức đời sau cũng không làm được.

Thứ tư:Vì sao Tần Thủy Hoàng bị dán thương hiệu “bạo chúa”?

Điều đáng thương chính là trải qua hơn 2000 năm qua, Tần Thủy Hoàng luôn bị dán thương hiệu là 1 tên “bạo chúa”. Từ xưa đến nay, trong hình tượng tác phẩm văn chương và dân gian, Tần Thủy Hoàng hầu như là nhân vật phản diện, điều này có đích thực công bằng cho ông không?

Truy cứu cội nguồn có thể thấy rằng điều này là do chính điều kiện lịch sử thời đó tạo thành. Thời Xuân thu chiến quốc, quần chúng sinh ra đã có 1 loại tư duy nhất định. Họ cho rằng trần gian này phải “chia năm xẻ bảy” mới là thường nhật còn hợp lực là điều không thường nhật. Mỗi 1 người đều có ái mộ với nơi mình sinh sống và không có ước nguyện hợp lực quốc gia. Trái lại, “hợp lực” ở 1 góc độ nào đó mà nói, nó có thể trở thành đại từ “xâm lược”. Vì vậy, quần chúng đều căm hận Tần Thủy Hoàng, ông đã làm quần chúng mất đi quê hương, biến họ thành người dân mất nước. Căn cứ vào tâm sự loại này, Tần Thủy Hoàng không khỏi bị yêu ma hóa, và cũng trở thành 1 hình tượng “thiên cổ bạo quân” (bạo chúa nghìn đời).

Theo bạn thì thế nào, Tần Thủy Hoàng trong nghĩ suy của bạn liệu có phải là 1 tên bạo chúa?

St (ĐKN)