Những người đàn bà cuối đời lang thang

0
384

Một đời đi ở mướn, lang thang lúc cuối đời

Chiếc giường xếp cũ kỹ, èo uột nằm sát con hẻm nhỏ số 98 các con phố Lý Thái Tổ, thị trấn 2, quận 3, từ 10 năm nay đã trở thành “mái nhà” của bà cụ Nguyễn Thị Mai (88 tuổi). Gọi là “mái nhà” cho đẳng cấp vậy, chứ thực ra, mọi sinh hoạt của bà đều lẩn quất xung vòng vèo chiếc giường xếp, mấy chiếc ghế nhựa bày ra chung vòng vèo, quây thêm tấm bạt làm cho mái che bên trên cho ra hình hài 1 túp lều nho nhỏ. Người con gái ấy, có gia đình mà thành cô độc, 1 thập kỷ nay sống nhờ vào tình thương mến, che chở của bà con vòng vèo hẻm nhỏ.

Cquận là, bà cụ Mai vốn sinh ra tại mảnh đất Thừa Thiên Huế, trong 1 gia đình nghèo túng. Chẳng được học hành, ba mẹ lại đau bệnh liên miên, từ nhỏ, cô bé Mai đã phải theo người bà con xa vào Phú Yên để làm cho giúp việc cho người ta. Sống cảnh “ở mướn” nhà người, cô bé Mai nhẫn nhục, chịu đựng bị chủ đuổi đánh, la mắng mỗi ngày, quần quật làm cho việc để mót từng đồng bạc lẻ, gởi về quê nhà cho ba mẹ chữa bệnh.

Nhung nguoi dan ba cuoi doi lang thang

Suốt 1 đời cùng cực, lúc đứng bên kia dốc thế cục, bà Mai vẫn thui thủi 1 mình không người thân.

Khi con trai vừa chào đời cũng là lúc tin người chồng đã tử vong. Một mình vượt qua cơn đau sinh đẻ, 1 mình xoay sở cquận nằm bếp, bà lại gắng gượng tiếp diễn sống để chăm lo cho đứa con. Những chuỗi ngày nặng nhọc tiếp diễn đeo bám hai mẹ con. Ban ngày, bà quay về với nghề giúp việc, lau nhà, thu vén, cơm cháo cho người ta, tối đến lại mang con đi rửa chén bát cho các quán ăn để kiếm thêm thu nhập. Dẫu vậy, số tiền kiếm được mỗi ngày cũng chỉ đủ cho hai mẹ con có được 1 bữa no, cũng có khi đói.

Nhung nguoi dan ba cuoi doi lang thang

Lâu nay, bà Mai sống nhờ tình thương của bà con hàng xóm hàng xóm trong con hẻm 98.

Nhẫn nhục, chịu đựng suốt 1 đời, ở mướn từ nhỏ nuôi ba mẹ đau yếu, làm cho vợ, làm cho mẹ trong cảnh quẫn bách, cơ hàn, khi đứa con trai lớn lên rồi lập gia đình, tưởng đâu bà sẽ được hưởng chút niềm vui còn sót lại nơi tuổi già, quây quần bên con cháu, dầu nghèo vẫn cổ vũ những niềm vui. Ấy thế mà, trong 1 cơn tai biến bất ngờ, đứa con trai độc nhất vô nhị của bà cũng bỏ bà mà đi, để lại trần thế mẹ già, vợ và hai đứa con thơ dại.

Ít lâu sau khi con trai mất, bà 1 lần nữa lại trải qua cảnh lá vàng tiễn lá xanh, khi đứa cháu lớn, không rõ mắc bệnh gì, bất ngờ tắt hơi. Cquận ấy đã xảy ra hơn 20 năm nay. Sau biến cố ấy, người con dâu đành đoạn ôm đứa cháu nhỏ bỏ nhà ra đi tậu hạnh phúc mới, và để chạy trốn thế cục thảm kịch đến khó tin của bà Mai. Thế là, cuối đời, bà cụ lại thui thủi 1 mình 1 bóng. Bà thú thật, có nhiều lúc nghĩ quẩn quanh, bà chỉ muốn chết đi vì không muốn làm cho phiền đến bà con hàng xóm nữa. Không có tiền lo cơm ngày ba bữa, lại bệnh tật vì di chứng bao năm nặng nhọc, số tiền trợ cấp người già neo người nhận được mỗi tháng, bà đổ vào thuốc men cả.

Dẫu chỉ còn 1 mình, chẳng người thân thích, nhưng có nhẽ bà cụ không cô độc bởi xung vòng vèo vẫn còn đó những tấm lòng của những người dân nơi con hẻm nhỏ đầy yêu thương, cho đến ngày bà cụ chỉ còn 1 mình, neo vào thế cục như cánh hoa tàn trong gió bão.

Cặp người thương già sống lang thang ở miền cổ tích

Tuy sống cảnh lang thang, nhặt rác sống qua ngày ông Giàng A Páo và bà Vàng Thị Sua (cùng xã Sa Pả, quận Sa Pa, tỉnh Lào Cai) là người vô gia cư tại xã Sa Pa vẫn bên nhau. Ban ngày, ông Páo chống gậy, bà Sua đeo gùi đi lang thang, nhặt rác và xin ăn vòng vèo xã. Tối đến, ông bà ngủ trợ thì dưới mái hiên của trạm cân, nhà dân hay trên sofa bỏ đi nơi góc chợ.

Dù cuộc sống mưu sinh cạnh tranh, có sức sống suy kiệt vì tuổi già, ông bà vẫn luôn vấn vít, săn sóc và dành cho nhau những cử chỉ yêu thương.

Nhung nguoi dan ba cuoi doi lang thang

Đôi người thương già thường dành cho nhau những cử chỉ âu yếm. Ảnh: Fanpage Tây Bắc 24h.

Trước đây, ông Páo từng có vợ và nhà cửa ở thôn Má Tra, xã Sa Pả. Hai người có với nhau 1 người con gái bị tật nguyền, mất khi còn nhỏ. 15 năm trước, vợ ông Páo mất. Buồn khổ, ông bỏ lên xã Sa Pa kiếm sống. Tại đây, ông gặp bà Sua rồi hai người gá lại với nhau. Nhưng vì già lão, không cày cuốc được, lại không có con cái chăm lo nên ông bà bán ruộng rẫy, nhà cửa lên xã Sa Pa nhặt rác, xin ăn. Hai người bên nhau đã hơn 10 năm.

Tuy không nói sõi tiếng Kinh, bà Sua tận tình san sớt về tình cảnh của mình, bà nói: “Chúng tôi không có nhà cửa, con cái nên phải lang thang, ngủ các con phố ngủ chợ, ai cho gì ăn nấy, tối bạ đâu ngủ đấy. Nhặt rác cả ngày cũng không kiếm đủ 1 bữa ăn, khổ lắm!”.

Tài sản của đôi người thương già chỉ vỏn vẹn có chiếc gùi mây đựng thức ăn, 1 ít đồ sinh hoạt basic và 1 bao tải đựng đồ đồng nát mặc cả ngày nhặt được. Gia tài chỉ có vậy, nên đi đến đâu, ông bà cũng mang theo. Sức khỏe ông Páo đã yếu, chẳng thể làm cho việc nặng. Nên mọi việc từ nhặt rác, xin ăn đến mang vác các vật dụng đều do bà Sua đảm đang. Thấy ông bà tuổi đã cao lại lang thang trong giá rét, nhiều khách du lịch dừng lại hỏi han và biếu tiền, quà. Những nhà hàng trong xã thường để dành thức ăn giúp ông bà không bị đói.

Nhiều vật dụng tư nhân của ông bà, từ đôi giày thể thao đến chiếc ô che mưa, nắng đều nhặt từ thùng rác. Ông bà không có áo ấm để mặc, không có chăn để đắp nên mùa mùa đông là mùa làm cặp người thương già sợ nhất.

Nhung nguoi dan ba cuoi doi lang thang

Được khách du hý tặng bao thuốc lá, ông Páo vui vẻ hút. Ảnh: Hoàng Như.

Người dân trong xã Sa Pa đều biết về tình cảnh của ông Pá, bà Sua. Họ lo sợ ông bà không quyết đấu được sự hà khắc của mùa đông. Tôi chỉ biết ông bà hiện sống với nhau như vợ chồng, cùng đi lang thang kiếm sống ở xã Sa Pa, chẳng mấy khi về nhà.

Người con gái bị thờ sống suốt 33 năm, nhà chồng đuổi, con gái bị bắt cóc

Bà Nguyễn Thị Phải (SN 1946, quê tại Phổ Yên, Thái Nguyên) mồ côi ba mẹ từ năm mới lên hai. Sau đó bà được người anh trai khi đó đã lập gia đình mang về nuôi. Năm 22 tuổi, bà lấy chồng. Những tưởng những số đen sẽ vơi bớt khi bà có mái ấm mới, nhưng ai ngờ, 9 năm làm cho dâu là 9 năm bà phải sống trong chuỗi ngày cùng cực, đẫm nước mắt.

Bà Phải nhắc lại, vì không sinh hạ được con trai, bà bị gia đình nhà chồng hất hủi, đánh đập thậm tệ. Cay đắng và uất hận, bà đành ôm đứa con gái bé bỏng khi ấy mới vài tháng tuổi lang thang từ tỉnh Thái Nguyên xuống thủ đô Hà Nội kiếm sống. Ngày quy chế xuống Hà Nội kiếm sống, hai mẹ con chỉ có 4kg chè khô mà bà mót được mang theo làm cho hành trang trị giá nhất, ấy thế mà bị kẻ xấu đi cùng chuyến tàu nỡ lừa lấy mất. Lang thang sống ở đất Thủ đô nhưng không có 1 xu dính túi, bà Phải ôm con đến chợ Đồng Xuân xin việc. Suốt hơn 20 năm, vì không có tiền thuê nhà, bà Phải và con gái phải ngủ ngoài bờ đê, coi bầu trời là nhà, bờ đê là giường.

Với bà Phải, con gái là điều cần phải có nhất – món quà quý báu nhất, vui vẻ nhất mà bà có được. Nhưng vào cuối năm 1981, trong 1 lần bà Phải đi mò ốc, con gái bà (khi ấy 4 tuổi) đã bị 1 cặp vợ chồng bắt cóc và đưa lên tỉnh Bắc Ninh. Thấy thương tình cảnh của bà, người dân tại chợ Đồng Xuân đã quyên góp, biếu bà ít tiền để bà xuất hành tậu con gái.

Những tháng ngày sau đó, bà lang thang khắp nơi tậu con. Khi thì người ta thấy bà ở cửa khẩu Móng Cái (Quảng Ninh), lúc lại thấy bà “dạt” lên cửa khẩu Tân Thanh (Lạng Sơn). Cũng có lúc bà lặn lội vào tận những bản vùng cao Phú Thọ.

Nhung nguoi dan ba cuoi doi lang thang

Biết tin con gái bị bắt cóc, người mẹ ấy đã khóc nhoè mắt làm đôi mắt ấy hễ trở trời lại đau nhức.

Sau hơn 3 tháng trời rong ruổi khắp 10 tỉnh thành, bất ngờ bà đã tậu được cô con gái bé bỏng tại tỉnh Bắc Ninh vào ngày 29 tết. Sau khi hai mẹ con về lại Hà Nội, người dân ở đây vui mừng thay cho mẹ con bà. Lúc này, mọi người lại biếu bà ít tiền để bà đổi nghề, không đi bắt ốc nữa mà kinh doanh khoai để vừa trông con, vừa có thêm thu nhập, giảm thiểu trường hợp con bà lại bị bắt cóc 1 lần nữa.

Năm 2010 tức sau 33 năm rời khỏi quê hương, bà Phải mới quy chế về thăm quê. Mặc dù, bà vẫn còn uất hận những sự việc đã xảy ra với bà trong kí vãng. Nhưng vì làng xóm cổ vũ, nhất là lúc này con gái bà cũng đã có gia đình riêng nên bà mới quy chế gạt thù hận sang 1 bên mà cho con gái, con rể quay về thăm quê.

Khi về đến quê, người thân và làng xóm của bà còn giật thột cứ nghĩ đó là hồn ma trở về. Không ai nghĩ bà còn sống, vì cũng đã hơn 30 năm rồi. Khi nghe tin bà còn sống bằng xương, bằng làm thịt người dân trong làng kéo đến hỏi thăm, san sớt. Cuộc đời bà Phải thật lắm không khớp, ngày vui chỉ đếm được trên đầu ngón tay. Cuộc sống của bà gắn liền với không vui, tủi nhục. Ước nguyện 1 đời, bà cũng chỉ mong rằng con gái mình sẽ được hạnh phúc, không còn cùng cực như đời mẹ.

Thùy Dung (tổng hợp)