Những mảnh đời bên huyệt mộ

0
342

Đổ mồ hôi, nước mắt bên huyệt chiêu tập

Đang nhăn nhó mặt mũi, thở hào hển khiêng bao gạch, anh Lê Văn Thoan và chị Nguyễn Thị Hựu dừng lại tiếp chuyện chúng tôi vài câu: “Ruộng ở vùng này ít lắm, nhắc quanh nhắc quẩn năm không có nghề phụ gì nên phải vào đây khiến kiếm thêm vài đồng để có cái tiêu. Đã khiến ở đây được hơn 2 năm rồi nhưng bọn mình không có tay nghề nên đành phải nhận chân gánh gạch, gánh nước”.

Chị Hựu mới 32 tuổi nhưng đã có 3 đứa con đến tuổi ăn tuổi học, đứa lớn 10 tuổi, đứa nhỏ nhất 4 tuổi. Chồng chị ở nhà khiến ruộng, không có nghề phụ gì nên cuộc sống rất cạnh tranh. Chính do đó ngày mưa gió, giá lạnh hay nắng như đổ lửa chị đều đạp xe vào Công viên nghĩa trang Vĩnh Hằng khiến những công việc khó nhọc bê gạch, gánh nước phụ giúp cho cánh thợ xây. Những hôm nào ốm đau nằm liệt gường chị mới chịu ở nhà. Chị khổ cực cho biết: “ Nếu mình mà không đi phụ hồ kiếm được đồng ra, đồng vào thì bọn trẻ ở nhà phải bỏ học mất”.

Công việc bê gạch, gánh nước lên đỉnh đồi để xây huyệt chiêu tập với quãng tuyến phố 200-300m vô cùng nhọc nhằn, nặng nhọc. Chúng tôi thấy đa số sự khó nhọc đó tuồng như hiện hết trên khuôn mặt khắc khổ của chị Hựu, anh Thoan. Họ cho biết do không có loại dụng cụ nào lên được trên đỉnh đồi, chính do đó việc chuyên chở gạch, nước, xi măng… để xây những huyệt chiêu tập trên cao đều phải tiêu dùng sức người.

Vất vả là vậy nhưng khiến suốt chiêu tậpt ngày anh Thoan, chị Hựu chỉ nhận được 120.000đ tiền công, thậm chí ăn nhậu và tiền đi lại sức cần lao đều phải tự bỏ ra. Mặc dù đồng bạc công rất rẻ so sức phải bỏ ra, nhưng anh Thoan, chị Hưu bảo giả thử mình không khiến, họ cũng có nhiều người hơic để thuê.

Những người như anh Thoan, chị Hựu thuộc đội ngũ chuyên chuyên chở nguyên vật liệu. Ngoài ra ở đây còn có các đội ngũ chuyên trách như: đội ngũ đi đào đất, đội ngũ chuyên đi lau chùi chiêu tập, đội ngũ chuyên xây chiêu tập, đội ngũ khiến đá…

Công việc đào huyệt chiêu tập ngốn nhiều sức lực của người cần lao nhất. Chính do đó đội ngũ đào đất đa số la đàn ông có sức sống. Do để chôn cất vĩnh viễn , nên những huyệt chiêu tập ở đây được các chủ lô đất bắt buộc đào sâu 1,8m đến 2m rộng 1,3-1,5m và dài 2,6-2,7m.

Anh Nguyễn Văn Đức, xóm 2, thôn Yên Bồ đã có thâm niên hơn 8 năm trong nghề đào đất chán ngán tâm can: “ Khu đất đồi này rất rắn, cứng nên khó đào lắm. Chúng tôi phải tiêu dùng mọi dụng cụ thô sơ như choòng, cuốc, cuốc chim, xẻng, mai để đào từng lớp đất”. Anh chẳng thể nào quên những ngày mới vào nghề.

Mỗi ngày đi đào đất về anh bị đau ê ẩm khắp toàn thân. Mọi cơ bắp trên người đều bị căng cứng, rệu rã, có khi đau mấy ngày mới khỏi. Từ lâu anh đã trở thành cần lao chính trong nhà để nuôi người cha già 78 tuổi hay ốm đau và đàn con nhỏ. Đất ruộng ở vùng xã Vật Lai ngày chiêu tậpt bị thu hẹp do sự mở mang của các nghĩa trang, nghề phụ thì không có. Vì thế những người không có kỹ thuật, học thức như anh Đức chỉ có biết mưu sinh bằng nghề bán có nhiều khí chất đi cần lao tự do như đào đất ở nghĩa trang mà thôi.

Nhung manh doi ben huyet mo
Em Lâm (14 tuổi) ngày ngày vào nghĩa trang mưu sinh bằng nghề phụ hồ.

Chứng kiến cảnh đào đất của đội ngũ anh Đức tôi mới hiểu hết được những lời anh nhắc. Người thợ phải hì hục bẩy từng cục đá, vớt từng lớp đất khô cằn. Khi lưỡi cuốc vừa đo đến độ sâu hơn 1m, đội ngũ đào đất tỏ ra chán ngán, lắc đầu. Lớp đá ở tầng đất này rất khó phá bỏ. Bóng 2 gã đàn ông đào đất đang lom khom dưới huyệt chiêu tập, mồ hôi vã như tắm trong cái rét nàng Bân tháng 3. Anh Đức vừa đào đất, vừa thở và nhắc đùa hơi đau xót: “ Giờ mà đống đất vừa vét, vứt lên bờ có đổ xuống thì chôn luôn mình mấy anh em bọn tôi mất thôi.”

Công việc vắt kiệt lực cần lao, nhưng đội ngũ quân đào đất lại được trả tiền công ở mức rất rẻ. Hai người đàn ông có sức sống được khoán đào xong chiêu tậpt cái huyệt trong ngày thì được trả 300.000đ. Như vậy mỗi người chỉ nhận được tiền công 150.000đ/ngày. Những đồng bạc công đó có nhẽ phải nhắc chính xác là được tắm trong mồ hôi, nước mắt. Huyệt được đào xong đúng kích cỡ đội ngũ anh Đức khởi đầu chuyển giao cho đội ngũ thợ xây để tiến hành công đoạn tiếp theo.

Anh Trần Văn Sơn, sinh năm 1981 đã có 7 năm thâm niên đi xây chiêu tập ở công viên nghĩa trang Vĩnh Hằng. Trước đây Sơn vốn là thợ xây nhà, đã từng đi nhiều nơi hành nghề, nhưng chẳng bao giờ để được đồng bạc mang về cho gia đình. Cái nghề thợ xây tha hương tứ xứ giang hồ cứ vừa ráo mồ hôi cái là đã hết tiền. Từ ngày có Công viên nghĩa trang Vĩnh Hằng, anh về quê đi xây huyệt chiêu tập cho gần nhà.

Hơn 13h chiều, bữa cơm ăn gấp còn chưa xuống đến dạ, Sơn đã hấp tấp lên xe phi vào nghĩa trang để khiến cho kịp tiến độ đã thỏa thuận với đội ngũ cai. Những người thuộc đội ngũ thợ xây chiêu tập như Sơn có tay nghề cao nhất sẽ được đám cai trả công 300.000đ/ngày. Một tháng thường có việc khoảng 20 ngày. Cái nghề xây chiêu tập cũng đã khiến hao mòn có nhiều khí chất, nét trẻ trung tuổi xuân của con người đi rất nhanh. Chính vì vậy, Anh Sơn tuy mới 36 tuổi, nhưng nhìn mẫu mã có nhẽ người ta sẽ đoán anh năm nay đến 50 tuổi .

Mưu sinh ở Công viên nghĩa trang Vĩnh Hằng hiện tại có khoảng 15 đội ngũ chuyên trách chiêu tậpt công việc, với con số tổng dao động từ 300-350 nhân lực. Những ngày công việc nhiều, người dân vào nghĩa trang mưu sinh có thể tăng lên. Theo thống kê của chiêu tậpt cai phu chiêu tập ở đây thì có đến 70% đội ngũ vun đắp, phụ hồ là người thôn Yên Bồ, xã Vật Lại.

Trẻ bỏ học vào nghĩa trang mưu sinh

Hỏi về chuyện học hành, đỗ đạt đại học của con em ở Yên Bồ, ông Bí thư chi bộ của thôn là Chu Hữu Khu đau xót nhắc: “Đến phổ thông cơ sơ, phổ thông trung học nhiều đứa phải bỏ giữa chừng thì lấy đâu ra đỗ đại học mà các chú hỏi. Thường đến tuổi 15-16 là gia đình không có tiền cho con ăn học, chúng phải bỏ để về đi cần lao, phụ giúp ba má rồi”.

Đi nhắc quanh nhắc quẩn khu Công viên nghĩa trang Vĩnh Hằng, đâu đó chúng tôi lại thấy hình ảnh những cô bé, cậu bé mới 14-15 tuổi đã phải bê đất, xách vữa trông rất cực nhọc. Nguyễn Văn Lâm, mới 15 tuổi đã phải khiến chân xách vữa, phụ giúp cho các anh, các chú xây chiêu tập. Trời hơi lạnh, mà Lâm chỉ mặc chiêu tậpt manh áo sơ mi, chân đi đôi tông đã cũ rách. Xách hai xô vữa trên tay, thân hình gầy gò, bước đi xiêu lòng mà tôi có cảm giác em có thể ngã bất cứ lúc nào. Nhiều người trong đội ngũ phụ việc ở đây nhắc cho tôi biết về cảnh ngộ nhà cậu bé Lâm: “Nhà nó khổ lắm, cảnh ngộ lắm”…

Phải đợi đến gần trưa khi mọi người nghỉ giải lao hết, Lâm mới dám ra tâm can với chúng tôi chút đỉnh. Em nói mình phải bỏ học từ năm lớp 6 vì nhà quá nghèo, và ba má lại hay ốm đau. Mỗi ngày vào đây phụ giúp việc xây chiêu tập, Lâm nhận được số tiền công là 120.000đ, có ngày đi khiến nửa buổi thì chỉ được 60.000đ. Công việc nặng nhọc, nắng gió nên Lâm đen sạm đi, khuân mặt buồn khổ mất đi hoàn toàn nét hồn nhiên của chiêu tậpt đứa trẻ.

Thậm chí ở đội ngũ đi phụ việc tại Công viên nghĩa trang Vĩnh Hằng còn có cô bé Nguyễn Thị Hương mới 13 tuổi. Hương chỉ được học hết lớp 4 đã phải bỏ, vào Công viên nghĩa trang khiến mấy việc nhỏ nhặt như xếp gạch, lau chiêu tập để kiếm tiền phụ với ba má.

Nhung manh doi ben huyet mo
Những nữ giới kiếm sống ở nghĩa trang với công việc phụ như gánh gạch, gánh nước, gánh đất.

Còn cô gái Lê Thi Lan, 17 tuổi nhưng đã vào khiến ở Công viên nghĩa trang được 2 năm. Do có chút năng khiếu, khéo tay nên Lan được khiến thuê việc nhẹ nhõm, đòi hỏi kĩ thuật đó là ốp đá cho các nấm chiêu tập. So với công việc gánh gạch, đất, nước và xách vữa mà nữ giới, trẻ em hay khiến thì công việc của em Lan là ít tốn sức hơn cả.

Tiền công mà Lan nhận được cũng cao hơn vào khoảng 180.000-200.000 đồng/ngày, còn đi nửa ngày sẽ nhận 100.000 đồng. Do chuyên môn dân trí, nhận thức của người dân ở vùng đất cùng tận của Hà Nội này vẫn còn rất rẻ, cộng với cạnh tranh trong đời sống kinh tế nên những cô bé cậu bé như Lâm, Hương, Lan… mới phải bỏ học sớm để đi mưu sinh ở nghĩa trang.

Đặc biệt những câu việc phụ phu chiêu tập ở đây đều rất khó nhọc, không thích hợp với lứa tuổi của các em. Tuổi thơ của những đứa trẻ ở đây đã mất đi vì công việc mưu sinh đồng thời chúng có thể sẽ bị mắc chiêu tậpt số bệnh nghề nghiệp khi phải cần lao nặng từ quá sớm. Còn mai sau của lũ trẻ ở đây thật là mờ mịt khi chẳng đứa nào có đứa học thức, kiến thức…

Ông Khu nhẩm tính: “Cả thôn Yên Bồ hiện tại phải có khoảng gần 200 người đang mưu sinh bằng nghề đào, xây huyệt chiêu tập ở Công viên nghĩa trang Vĩnh Hằng, đó chỉ là số cần lao khiến thường xuyên. Trong đó nữ giới và trẻ em cũng phải chiếm tới 1/3. Làng tôi chẳng có nghề phụ nào, chỉ đợi mong vào sào ruộng. Ngày nhàn rỗi, không có việc khiến, con cái đau khổ, nghèo khổ quá nên họ mới phải đi khiến cái nghề cực nhọc, buồn chán đó.”.

Rồi đây công viên nghĩa trang Vĩnh Hằng sẽ được mở mang thêm 10ha. Người Yên Bồ sẽ không lo hết việc, nhưng thấy cảnh lầm lũi mưu sinh của họ, đặc thù là chiêu tậpt số đứa trẻ mà không khỏi tủi thân, xót xa…

Theo Nguyễn Hường/PLVN