Đời hàu dưới đáy sông

0
296

“Đời hàu, đã gắn cùng mùa xuân. Hàu sinh ra từ mùa xuân – mùa của dòng nước mát sau sự dữ dằn của bao ngày bão lũ và trước mùa chát mặn khi hè về. Dòng Nhật Lệ, đoạn đi qua Cồn Hàu mùa này đẹp lạ thường. Nắng ban mai lấp loáng trên mặt sông lộng gió. Trên chiếc thuyền máy rập ràng trên sông, chúng tôi theo chân những người thợ lặn hàu (TT Quán Hàu, Quảng Ninh) ra giữa dòng, cùng họ khởi đầu 1 buổi sáng mưu sinh giữa nắng, gió và minh mông sóng nước, cùng thấm cái khó nhọc với những người quanh co năm chìm nổi cùng hàu.

Doi hau duoi day song

Người lặn hàu dưới đáy sông.

Gần chục năm trời khiến cho vợ người thợ lặn hàu nhiều năm kinh nghiệm như anh Triển, chị Đào đã quá quen với những buổi sáng tất bật như thế khi vừa lo bữa ăn cho chồng, vừa phụ anh chuẩn bị đồ nghề lặn sông. Chị bảo, dù ngày mưa rét hay nắng ráo thì 1 thợ lặn bao giờ cũng mang trên mình năm lớp xống áo, trong đó có 1 áo tơi và hai bộ đồ lặn nhiều năm kinh nghiệm, rồi mũ, kính, bít tất tay và đôi giày vải.8 giờ sáng, nắng đã chảy tràn trên những ngôi nhà ngói đỏ nằm quay mặt ra giữa bờ sông, óng ánh trên những bộ mặt sạm đen vì khó nhọc. Vợ chồng anh Võ Sỹ Triển (Tiểu khu 2, TT Quán Hàu) lại cùng soạn sửa cho 1 ngày khiến cho việc mới.

Vừa mang vội lớp quần áo rốt cục, anh Triển kể thêm vào: “Trên có thể nắng chảy mỡ nhưng dưới lòng sông khi mô cũng lạnh nên chúng tôi phải mang kín đáo như ri mới mong chống chịu được với nhiệt độ dưới nớ. Thanh niên trai tráng cả, nhưng sức người đôi vô cớ địch nổi với sự hà khắc của trùng hợp. Nhất là khi mỗi chuyến lặn hàu thường kéo dài từ 5 – 6 tiếng”.

Sau khi chuẩn bị tư trang đầy đủ với lỉnh kỉnh đủ thứ đồ nghề, họ khởi đầu xuống thuyền, nổ máy ra giữa dòng sông, cách bờ chừng hơn 1 km. Chiếc thuyền bữa nay ngoài anh Triển còn có thêm ông Võ Đại Thắng, vốn là thợ lặn hàu lành nghề, cùng với 1 thợ lặn nhiều năm kinh nghiệm hơic – anh Hoàng Minh Thọ.

Thấy tôi nhìn hai chiếc đồn đãi lớn mà mỗi người mang theo bên mình đầy nghi vấn, ông Thắng kể như thét vào tai tôi trong tiếng máy nổ rền rền: “Một để bỏ rổ đựng hàu, 1 để bỏ bình ắc quy chạy bình oxi. Cả hai cái đều được nối với thợ lặn, người đi đến mô, đồn đãi trôi theo đến nớ”.

Ra giữa dòng, thuyền tắt máy. Hai anh thợ lặn trẻ tuổi đeo vội 1 chiếc rổ nhỏ trước ngực, tay cầm 1 thanh sắt dài tầm 30 cm, 1 đầu được uốn cong và đánh bẹt mũi, sử dụng để nạy hàu. Họ cười đùa giòn rụm dưới cái nắng ban mai dịu nhẹ, trước khi cùng dancing ùm xuống nước. Hai chiếc đồn đãi khởi đầu trôi rập ràng trên mặt sông.

Trên thuyền, ông Thắng niềm nở kể: “Làm thợ lặn hàu cực trăm bề. Có khi trời rét căm căm cũng phải dancing xuống đáy sông mà kiếm chác chút cơm, gạo. Người thợ lặn ngoài không phờ phạc hay bơ phờ cần sự khéo léo, nhanh nhạy và sự tinh tường, vì đáy sông thì muôn vàn nghiêm trọng. Lứa như tui bựa ni ít lặn hơn. Còn tụi trẻ bữa ni cũng ít người theo nghề nhưng đứa mô đã theo là nhiều năm kinh nghiệm và nhiều năm kinh nghiệm lắm. Dù điều kiện khiến cho việc bữa chừ đã hơi hơn trước nhưng đã vận vào mình nghề ni là ưng ý trăm phần cực nhọc”. Nói rồi, người thợ lặn hàu dày dặn kinh nghiệm 1 thuở ném ánh mắt trầm đục ra giữa dòng sông mênh mang sóng.

Doi hau duoi day song

Mênh mông dòng Nhật Lệ.

Chốc lát, cố lão lại nhìn chăm chăm vào những bọt khí trước mặt, giọng trầm trầm: “Nhìn rứa thôi, chớ dưới nước, chơm chởm đá tảng. Còn tụi hắn cũng đang đi bộ chẳng hơic chi trên bờ. Muốn không bị nổi lên, mỗi đứa phải đeo vào người ít ra là 10 kg chì. Nhiều hôm về nhà, thằng mô cũng nằm rệu cả ra, nhưng đến mai lại tiếp diễn khiến cho nghề”.

Bất chợt, sợi dây nối hai đồn đãi bị kéo căng ra giữa nước. Ông Thắng chỉ trỏ: “Thằng Thọ khởi đầu ngoi lên rồi đó. Thắng nớ là thợ lặn nhiều năm kinh nghiệm nhất nhì ở đây”. Đúng như cố lão kể, dưới sông, anh Thọ “xé” toang làn nước rồi ngoi lên, trên tay cầm 1 giỏ đầy ắp hàu. Mẻ hàu thuở sơ khai được đổ vào rổ, vàng ươm dưới nắng mai óng ánh. Xong xuôi, Thọ lại tiếp diễn lặn sâu xuống nước. Bong bóng nước thi nhau nổi trên mặt sóng. Hai chiếc đồn đãi lại nối đuôi nhau chậm rãi trượt dài trên sông. Phía gần đó, anh Triển cũng khởi đầu ngoi lên, bàn tay chắc nịch nắm chặt chiếc giỏ hàu đổ ào vào rổ.

Ông Thắng bảo, mùa hàu năm nay hàu to và chắc hơn mọi năm. Có lẽ tại năm trước mùa thu hoạch chững lại vì sự cố môi trường biển. Giờ thì người ta lại khởi đầu mạnh bạo trở lại với những món đặc sản thân thuộc được chế biến từ hàu. “Người khai thác hàu ở đây khởi đầu sử dụng đến cào máy từ nhiều năm trước, khiến cho rứa đỡ cực hơn nhưng hàu cào được thường to không đều. Mà những loại hàu nhỏ thì bị chết oan”, cố lão chỉ vào những chiếc thuyền cào máy đang chộn rộn giữa sông, tiếng máy nổ rền vang giữa mênh mang sóng nước.

Trời về trưa. Nắng khởi đầu chói chang và khét lẹt. Dăm ba rổ hàu đã được đổ đầy trên chiếc thuyền nhỏ. Nhưng tuồng như cuộc mưu sinh bữa nay của những người thợ lặn hàu vẫn chưa có ký hiệu dừng lại. Hết ngoi lên, rồi lặn xuống, trên tay họ vẫn đầy ắp những giỏ hàu vàng ươm dưới nắng. Chỉ 1 khúc sông nhỏ nhưng có vô vàn cá thể hàu bám chặt dưới đáy. Thế mới hiểu, người Quán Hàu bao đời nay được trùng hợp ưu đãi cho 1 thứ đặc sản ngọt lành hiếm có. Họ đã sống và tựa nhờ cả vào hàu. Trên thuyền, câu chuyện đầy tự sự và cũng lắm hoài niệm của cố lão Võ Đại Thắng vẫn cứ đều đều, thi thoảng, lão lại cười khề khà, tếu táo như muốn xua tan đi cái nắng nôi khó chịu đang phong bế con thuyền nhỏ.

Thế nhưng, chẳng mấy đứa theo được nghề này, bởi nghề chát mặn và cực nhọc quá. Dù như san sẻ của ông Thắng, những ngày lặn hàu suốt 5, 6 tiếng, mỗi thợ lặn mang về chừng 10 kg hàu thành phẩm, tính ra cũng 1 triệu đồng chứ ít oi chi! Nhiều hộ ở Quán Hàu khấm hơi hơn cũng nhờ hàu, con cái ăn học cũng tựa cả vào đây. Nhưng khiến cho nghề mưu sinh dưới đáy sông này, cực nhọc quá cỡ. Thanh niên trai tráng không phờ phạc hay bơ phờ đuề huề cũng có lúc thấy cơ thể bợt bạt đi vì sóng nước. Nhưng rồi, nghề không phụ người nên cũng không ít người vẫn cứ thế thủy chung cùng nghề.Thế hệ thợ lặn như ông Thắng đầy đủ đã bỏ nghề, nhưng đến nay, người Quán Hàu vẫn cứ kể mãi về ông thợ lặn nổi danh khắp thôn trên, xóm dưới thuở xưa: ông Võ Ngọc Câu. Thời trẻ, dù không có máy móc hỗ trợ nhưng ông Câu vẫn lặn sâu đến 12 mét. Thế rồi, đời này tiếp nối đời hơic, trẻ em xóm này 10, 11 tuổi đã khởi đầu biết lặn hàu mưu sinh.

Doi hau duoi day song

Gắn với hàu, nhiều người đã hơi hơn.

Nhiều hộ ở Quán Hàu khấm hơi hơn cũng nhờ hàu, con cái ăn học cũng tựa cả vào đây. Nhưng khiến cho nghề mưu sinh dưới đáy sông này, cực nhọc quá cỡ. Thanh niên trai tráng không phờ phạc hay bơ phờ đuề huề cũng có lúc thấy cơ thể bợt bạt đi vì sóng nước. Nhưng rồi nghề không phụ người nên người cũng chẳng phụ nghề.

Dòng nghĩ suy liên hồi của những người trên thuyền chợt bị cắt quãng bởi hai thợ lặn trẻ đã tuần tự ngoi lên sau gần 5 tiếng lặn ngụp dưới đáy sông lạnh lẽo. Đồng hồ điểm 1 giờ chiều. Con thuyền khởi đầu nổ máy chở những người thợ lặn vào bờ. Ở phía bến bờ bình yên kia là vợ, là mẹ, là những đứa con thơ tựa cửa đợi người đàn ông của họ trở về để cùng ăn bữa cơm trưa muộn mằn.

Theo Diệu Hương/Quangbinhonline