Cái chết bí ẩn của vua Duy Tân và cuộc trở về muộn màng sau 70 năm lưu đày

0
425

Ông không bao giờ chuyện trò về Việt Nam với những người dân trên đảo Reunion và nhắc cả với vợ mình. Có lẽ bởi do chúng tôi sinh ra vào thời điểm đặc thù nên cha tôi không mách nhỏ danh phận, tông tích để cam đoan an toàn cho con cái mình. Song cũng có đôi lần ông giãi tỏ với mẹ tôi rằng: ông lúc nào cũng khát khao thoát khỏi Reunion, thoát khỏi tay người Pháp để trở về Việt Nam, tậu cách cứu nước.

Cai chet bi an cua vua Duy Tan va cuoc tro ve muon mang sau 70 nam luu day

Ngay từ năm 1927, cha tôi đã tham dự Hội địa phương chở che Nhân quyền và quyền Công dân, đồng thời có chân trong Hội kín Franc-Maconnerie (Hội Tam Điểm), hội của những người thông thái và phúc hậu, ở nhiều quốc gia khác nhau muốn hiến thân cho sự vươn lên về bình diện tinh thần và luân lý. Nó khuyến khích người tham gia hành động vì sự tiến bộ nhân loại.

Trong 1 thông điệp gửi cho Hội, cha tôi đã viết mở màn như thế này: “Chúng ta đang trải qua những giờ khắc nguy hiểm. Khắp mọi nơi trên hành tinh, nhiều triệu chứng, có khi ít được nhận thức, chứng tỏ nhân loại đạt đến ngưỡng đòi hỏi phải đổi thay chiều hướng trên con tuyến phố tăng trưởng mà chính ngay những triết nhân vĩ đại nhất cũng khó lòng biểu thị 1 cách không thay đổi quan điểm giả thử họ tinh thần kỹ năng kỹ sảo sai trái của chủng loại tôi và mọi người”.

Rồi ông kết luận: “Hy vọng rồi 1 ngày, nhờ công việc của các bạn, Hội sẽ thắng lợi những hận thù giữa con người và giữa các nước, đồng thời thống nhất nhân loại trong 1 tình huynh đệ tinh khiết bằng cách huỷ bỏ mãi mãi mọi tương phản giữa các giai cấp và các chủng tộc”.

Cha tôi đã công khai kể đến tự do, không ngại ngần đề cao tinh thần dân chủ, phóng thích dân nghèo tại 1 hòn đảo mà quyền bính nằm gọn trong tay 1 chính thể quý tộc. Song ông lại ngậm câm về kí vãng của mình, về những ước vọng cho mai sau quốc gia Việt Nam, về triều đại nhà Nguyễn.

Chỉ có 1 lần có 1 không hai trong đời, ngày 5 tháng 6 năm 1936, cha tôi đã viết 1 lá đơn gửi cho ông Bộ trưởng bộ thực dân địa, nhắc lại cuộc khởi nghĩa cùng Việt Nam Quang phục Hội vào ngày 3 tháng 5 năm 1916 và vai trò vạn bất đắc dĩ của ông với mục đích xin được đặc xá.

“Tôi đứng trước trường hợp phải chọn giữa hai tuyến phố: hoặc mặc để giết hại người Pháp và rồi dự 1 cuộc trấn áp đẫm máu hoặc cáo giác những đồng bào của tôi và phạm 1 cử chỉ hèn mạt. Để thoát ra trường hợp chua xót ấy, tôi chỉ còn 1 phương cách: nhận làm cho cho chỉ huy cuộc khởi nghĩa”.

Cai chet bi an cua vua Duy Tan va cuoc tro ve muon mang sau 70 nam luu day

Năm 1987, hài cốt vua Duy Tân được đưa về mai táng trọng thể tại An Lăng, Huế.

Lá đơn ấy của cha tôi đã không được phúc âm. Suốt những năm tháng ở đảo La Réunion, cha tôi luôn nuôi kỳ vọng trở về Việt Nam để làm cho cho được 1 điều gì đó cho quốc gia. Có ít ra 4 lần cha tôi được 1 số người bắt buộc cùng trốn khỏi đảo để trở về Việt Nam nhưng cha tôi đều chối từ. Bởi người muốn về 1 cách công khai, tử tế.

Cha tôi là người cầu tiến, ham học hỏi. Ông là người đi đầu tiếp cận với công nghệ vô tuyến điện trên hòn đảo hẻo lánh này và đã tham dự vun đắp đài thu phát truyền tin thứ nhất ở đây. Hiện nay, tại nơi này, vẫn còn lưu dấu ấn của cha tôi bằng việc chính quyền sở tại xây 1 cây cầu nhỏ mang tên ông và đến năm 1992, thành thị Saint-Denis, nơi cả gia đình tôi cư trú ngày xưa (số 67 Sainte-Anne), đã khánh thành đại lộ Duy Tân.

Cha tôi rất đam mê chơi thể thao, đoàn luyện có sức sống và học tập không dừng để mở rộng trí não. Nhưng niềm đam mê lớn nhất của ông chính là vô tuyến điện. Bởi ngành nghề công nghệ này không chỉ giúp cha tôi nuôi sống cả gia đình mà còn là công cụ có 1 không hai giúp ông giao thông được với toàn cầu bên ngoài.

Rất tinh thông trong ngành nghề vô tuyến điện nhờ đã tự học thêm, ông có viết nhiều bài công nghệ trong các báo tay nghề và tiếp xúc với nhiều chuyên viên vô tuyến nghiệp dư các nước khác qua dấu hiệu FR8VX. Ngay chính quyền địa phương cũng nhờ ông dựng 1 đài thu phát cho đảo.

Nhờ có máy mạnh, ông đã bắt được những đài quốc tế, từ Delhi, Sài Gòn qua Tokyo, Melbourne, ngay cả những đài bên Mỹ. Nhờ đó mà vào ngày 18 tháng 6 năm 1940, cha tôi đã nghe được bản tin hiệu triệu của tướng Charles De Gaulle – người đứng đầu của doanh nghiệp chống Phát xít Đức mang tên Pháp tự do, ở đài BBC trong chương trình “Tiếng kể của nước Pháp”.

Cai chet bi an cua vua Duy Tan va cuoc tro ve muon mang sau 70 nam luu day

Mộ phần vua Duy Tân cạnh nơi an nghỉ của vua cha Thành Thái.

Sự việc nước Pháp chiến bại trong chiến tranh toàn cầu thứ hai, đầu hàng phát xít Đức và sau đó tổ ngũ kháng chiến Pháp ở hải ngoại do tướng Charles De Gaulle đứng đầu được thành lập ở Anh trở về tái chiếm đất Pháp đã có ảnh hưởng rất lớn đến tư tưởng, tình cảm của cha tôi. Ông xem Charles De Gaulle là thần tượng, là hình mẫu cho hoạt động cứu nước của mình.

Lập tức ông nối giao thông với nước Pháp tự do và tậu cách chuyển tin cho quân sĩ Pháp chưa đến đảo. Nhờ ông mà lực lượng người kháng chiến ở đảo theo dõi được tình hình của cuộc thế chiến thứ hai và nhất là những bước tiến của quân Đồng Minh. Ông trở thành vong linh của lực lượng kháng chiến ở đảo. Vụ việc đổ bể, ông bị nhà cầm quyền La Réunion (lúc đó theo Chính phủ Vichy) bắt giam sáu tuần, từ ngày 7 tháng 5 đến ngày 19 tháng 6 năm 1942.

Sau ngày phóng thích, chính phủ nước Pháp tự do, qua bắt buộc của ông Capagorry, Thống đốc mới, không quên công lao của cha tôi, đã ban tặng ông Huy chương Kháng chiến với phù hiệu. Trong thư cảm ơn Tướng De Gaulle, cha tôi viết: “Khi tiếp thụ tôi trong số những người, không bằng lòng nước Pháp bị hạ rẻ vì thua 1 trận, ông đã làm cho cho vinh hạnh tôi, làm cho tôi gắn bó nhiều hơn nữa, với lời thề phụng sự 1 Tổ quốc đã cho tôi thừa kế 1 gia tư tinh thần”.

Ngày 28 tháng 11 năm 1942, khi chiếc khu trục hạm Léopard dưới quyền của ông thuyền trưởng Richard cập bến Saint-Denis, cha tôi đã tự nguyện tòng ngũ. Ông phó thuyền trưởng Baraquin thấy cha tôi có nhiều tri thức về vô tuyến điện, nhận ngay ông làm cho cho hạ sĩ vô tuyến. Vài ngày sau, khi tàu rời bến, cha tôi đã bận đồ thủy thủ rời đảo La Réunion, kết thúc 26 năm biệt xứ và mở 1 trang sử mới cho đời ông.

Ba tháng sử dụng cho với cấp bậc hạ sĩ vô tuyến, cha tôi bị phục viên vì nguyên nhân có sức sống. Sau nhờ thống đốc La Réunion là ông A. Capagory can thiệp, cha tôi gia nhập bộ binh Pháp dưới quyền của tướng Catroux với cấp bậc binh nhì.

Cai chet bi an cua vua Duy Tan va cuoc tro ve muon mang sau 70 nam luu day

Ngay từ năm 1927, Vua Duy Tân đã có chân trong Hội kín Franc-Maconnerie.

Một thời kì sau, ông được thăng lên chuẩn úy rồi sang châu Âu. Ngày 5 tháng 5 năm 1945, cha tôi được lệnh chuyển về phòng Quân sự của tướng Charles De Gaulle ở Paris. Ngày 20 tháng 7 năm 1945, ông được đưa qua sử dụng cho tại Bộ tham vấn của Sư đoàn 9 Bộ binh Thuộc địa đóng ở Forêt Noire, nước Đức.

Ngày 29 tháng 10 năm 1945, tướng Charles de Gaulle ký 1 sắc lệnh hợp thức hóa những sự thăng cấp liên tục của cha tôi trong Quân tổ Pháp: Thiếu úy từ 5 tháng 12 năm 1942, Trung úy từ 5 tháng 12 năm 1943, Đại úy tháng 12 năm 1944 và Thiếu tá ngày 25 tháng 9 năm 1945.

Việc cha tôi, 1 ông vua đã từng nổi dậy chống chính quyền thực dân địa Pháp cai trị nước ông, hiện giờ lại chạy theo ông tướng lưu vong Charles De Gaulle muốn phóng thích nước Pháp khỏi cuộc chiếm đóng của phát xít Đức làm cho nhiều người xem đây là 1 trường hợp oái ăm, 1 trong những tranh chấp lớn nhất trong đời Hoàng thân Vĩnh San.

Bởi “nước Pháp tự do” và nước Pháp thực dân mà ông chống đối đều là 1 nước Pháp. Nhưng thật ra, cha tôi chỉ tranh đấu dành tự do độc lập cho 1 quốc gia, 1 dân tộc, dù là Việt Nam hay Pháp. Tinh thần này ông đã có từ lâu, có thể ngay từ những ngày thụ giáo ông thái phó Eberhardt, tấn sĩ kỹ thuật, ở đế kinh Huế. Tuy nhiên, nhiều người lại cho rằng, cựu hoàng Duy Tân đã bị sử dụng như 1 con bài chính trị trong chỉ tiêu mật tái chiếm Đông Dương của Pháp.

Ngày 14 tháng 12 năm 1945, tướng Charles de Gaulle đã tiếp cha tôi. Trong tập “Hồi ký chiến tranh”, tướng De Gaulle ghi: “Tôi sẽ tiếp Cựu hoàng (Vĩnh San) và sẽ cùng ông xét xem chúng tôi sẽ làm cho cho được những gì? Đó là 1 nhân vật đầy cương nghị. Mặc dù bị lưu đày ròng 30 năm trời, hình ảnh của ông không phải phai mờ trong tâm hồn của dân tộc Việt Nam”.

Trong tác phẩm “Histoire du Việt Nam de 1940 à 1952” (Lịch sử Việt Nam 1940-1942), sử gia Philippe de Villers nhận xét: “Bảo Đại đã thoái vị và bị phê bình nghiêm khắc. Nhưng lần này, người được chú ý chính là nhân vật tiền nhiệm, Duy Tân. Bị lưu đày năm lên 16 tuổi, ông đã đầu quân vào Không lực Pháp và tham dự các cuộc tranh đấu ở Pháp và Đức. Ông đã trình bày chính kiến với Chính phủ Pháp và với 1 trung úy của Quân đoàn I sắp qua Đông Dương là ông Bousquet, cựu chánh văn phòng của Tổng trưởng Abel Bonnard”.

Cai chet bi an cua vua Duy Tan va cuoc tro ve muon mang sau 70 nam luu day

Vua Duy Tân (ở giữa) và các bạn.

Một bạn thân của cha tôi là E.P Thébault nhắc lại trong bài “Số phận bi thảm của 1 hoàng thượng An Nam: Vĩnh San – Duy Tân” đăng trên Revue France-Asie, năm 1970: “Trở lại Paris ngày 16 tháng 12 năm 1945, tôi thấy Ngài mặc 1 bộ đồ nhà binh rất đẹp, có gắn bốn lon. Bây giờ Ngài trọ ở khách sạn Louvres, trước hý viện Pháp.

Ngài kể: “Như vậy là xong rồi, quy định rồi! Chính phủ Pháp sẽ đặt tôi lại trên ngôi Hoàng đế Việt Nam. Tướng De Gaulle sẽ theo tôi trở về bên đó (Việt Nam) vào những ngày đầu tháng 3 năm 1946”. Từ nay tới đó, người ta sẽ chuẩn bị dư luận của Pháp cũng như quốc tế và Đông Dương. Vả lại, cũng còn cần phải dự thảo các bổn thoả ước giữa hai chính phủ nữa”.

Trong hồi ký “Bên dòng lịch sử 1940-1965”, linh mục Cao Văn Luận ghi lại rằng, mùa đông 1944 và đầu năm 1945, cùng với 1 số du học trò Việt và Việt kiều, ông có tiếp xúc ba lần với cha tôi ở Paris. Lần đầu, cha tôi tập huấn: “Người Pháp đang cần sự liên minh của tôi và mọi người để tái chiếm Đông Dương. Họ có thể bằng lòng cho ta thành 1 quốc gia tự trị trong Liên Hiệp Pháp.

Điều đó không trái với lợi quyền quốc gia. Dần dà tôi và mọi người đòi thêm quyền bính. Chúng ta biết làm cho cho gì hơn trước quân lực hùng hậu của Pháp và hậu thuẫn của đồng minh Tây phương? Chúng ta đã thấy những gương chống Pháp và tôi đây là nạn nhân của 1 lối chống bực bõ, vụng. Rồi quốc gia tôi và mọi người phải chịu 1 cảnh chiến tranh thảm khốc mà kết quả chưa biết là thắng hay bại”.

Lần thứ hai, cha tôi tâm tư: “Riêng về phần tôi, lòng yêu quê hương Việt Nam không cho phép tôi để ngỏ cửa cho 1 cuộc tranh chấp nội bộ nào. Điều mà tôi ý nguyện là phần đông các con dân Việt Nam tinh thần được rằng: họ là 1 quốc gia và tinh thần ấy sẽ thúc đẩy họ dựng lên 1 nước Việt Nam xứng đáng là quốc gia.

Tôi tưởng rằng tôi sẽ làm cho cho tròn bổn phận của 1 công dân Việt Nam khi nào mà tôi làm cho cho những người dân cày Lạng Sơn, Huế, Cà Mau tinh thần được tình huynh đệ của họ. Nghĩa hợp quần ấy được thực hành dưới bất cứ chế độ nào: cộng sản, xã hội chủ nghĩa, bảo hoàng hay quân chủ. Điều đó không cấp thiết. Điều cấp thiết là phải cứu dân tộc Việt Nam khỏi cái họa phân chia”.

Suốt đời mình, cha tôi chỉ ước vọng có 1 không hai 1 điều, đó là được trở về Việt Nam và tậu cách giúp dân chúng Việt Nam thoát khỏi sự cai trị của thực dân Pháp. Năm 1945, Thực dân Pháp đã dự kiến sử dụng ông như 1 quân cờ để trở lại tái chiếm Đông Dương.

Cai chet bi an cua vua Duy Tan va cuoc tro ve muon mang sau 70 nam luu day

Chính quyền sở tại đảo Reunion xây 1 cây cầu nhỏ mang tên vua Duy Tân.

Nhưng sau này, người Pháp trông thấy, sau gần 30 năm lưu đày, Cựu hoàng Duy Tân vẫn là ý trung nhân nước, muốn chống Pháp và muốn dành quyền tự quyết cho dân tộc, nên thực dân Pháp đã từ bỏ ý định đưa ông về Việt Nam.

Bộ Thuộc địa đã phê trong tờ lý lịch tư nhân của cha tôi (được giải mật sau này): “Parait difficile à acheter, extrêmement indépendant… intrigue pour quitter la Réunion et rétablissement trône d’Annam”. (Có vẻ khó mua chuộc, rất độc lập, mưu đồ rời khỏi đảo La Réunion để tái lập ngôi báu ở An Nam). Cũng vì lẽ đó mà cha tôi đã không có thời cơ hồi hương, như ước vọng của ông suốt những năm tháng bị lưu đày.

Trong những tháng năm sử dụng cho cho quân sĩ Pháp, cha tôi vẫn hết dạ quan tâm, lo lắng cho anh em chúng tôi. Ông thường xuyên gửi thư về, khuyên nhủ anh em chúng tôi đủ điều.

Trong 1 bức thư viết cho anh Yves Claude Vĩnh San vào ngày 17 tháng 11 năm 1945, ông kể: “Con đừng đi học mà đem về những điểm số yếu kém vì đối với người cha già đang yêu quý con đây thì cái cách có 1 không hai mà con cần giãi tỏ là học cho thật nhiều năm kinh nghiệm và ăn ở tốt. Không có ngày nào mà cha không nghĩ đến con.

Con nên biết rằng, giờ đây, con là con trai của 1 vị chỉ huy quân sĩ Pháp. Con nên sống xứng đáng với tình cảm mà bố mẹ đã dành cho con. Lần sau cha sẽ viết thư dài cho con. Trìu mến hôn con. Dede”.

Ngày 24 tháng 12 năm 1945, cha tôi lên chiếc máy bay Lockheed C-60 của Pháp cất cánh từ trường bay Bourget, Paris để trở về La Réunion thăm gia đình trước khi thi hành sứ mạng mới ở Việt Nam. Nhưng trên tuyến phố về, chiếc máy bay đã gặp 1 tai nạn rất khó hiểu, rớt gần làng Bassako, thuộc phân khu M’Baiki, Cộng hòa Trung Phi làm cho ông cùng 5 người có mặt trên chuyến bay tử nạn.

Theo nhiều người, đây có thể là 1 vụ mưu sát. Bởi việc cha tôi trở lại Việt Nam sẽ gây cạnh tranh cho Anh trong việc trao trả các thực dân địa. Cũng trong bài “Số phận bi thảm của 1 hoàng thượng An Nam: Vĩnh San – Duy Tân”, E.P Thébault viết: “Ngày 17 tháng 12 năm 1945, mười hôm trước khi tử nạn, Duy Tân có linh cảm tính mạng ông bị đe dọa.

Khi cả hai đi ngang, lần chót trong vườn Tuileries, cựu hoàng nắm tay Thébault kể: “Anh bạn già Thébault của tôi ơi! Có cái gì báo với tôi rằng tôi sẽ không trị vì. Anh biết không, nước Anh chống lại việc tôi trở về Việt Nam. Họ bắt buộc tặng tôi 30 triệu quan giả thử tôi bỏ ý định ấy”.

Cai chet bi an cua vua Duy Tan va cuoc tro ve muon mang sau 70 nam luu day

Hoàng tử Joseph Roger Vĩnh San nhắc về cha mình.

Mãi đến ngày 28 tháng 3 năm 1987, hài cốt của cha tôi mới được gia đình đưa từ M’Baiki, Trung Phi về Paris làm cho cho lễ cầu siêu tại Viện Quốc tế Phật học Vincennes và sau đó đưa về mai táng trọng thể tại An Lăng, Huế, cạnh nơi an nghỉ của vua cha Thành Thái, kết thúc hành trình lưu đày 70 năm ở xứ người của 1 ông vua yêu nước thất cơ lỡ vận.

Lúc đưa hài cốt cha tôi về Huế, Nhà nước rất nồng hậu giúp đỡ và nhiều vị quan chức đắt tiền đã đến nghiêng mình, thắp nhang trước bàn độc cha tôi. Từ bấy, anh em chúng tôi thường xuyên về Việt Nam để thăm phần mộ vua cha.

Viết về cuộc trở về của cha tôi, thi sĩ Nguyễn Duy đã có những vần thơ giản dị mà ăn thua, da diết:

VIẾNG VUA DUY TÂN

Ước gì về được Sông Hương

Thắp nhang mà lạy nắm xương lưu đày

Thế là đã trở về đây

Một con đứa ở chân trời cuối trời

Nắm xương xiêu bạt xứ người

Tâm hồn thì vẫn ở nơi quê nhà

Ngai vàng vừa cũ vừa xa

Ánh vàng vương miện cũng là hư vô

Mặt trời vẫn mọc đằng Đông

Lăng Minh Quân vẫn ở trong lòng người

Bao triều vua truất phế đi rồi

Người yêu nước chẳng mất ngôi bao giờ….

Hoàng Anh Sướng (theo Tuổi trẻ & Đời sống)