Bảo hộ công dân Đoàn Thị Hương cần phù hợp luật pháp và thực tiễn quốc tế

0
402

Thẩm quyền của cơ quan đại diện Việt Nam tại Malaysia

Theo quy định của Công ước Vienna về quan hệ ngoại giao (1961), các cơ quan đại diện ngoại giao 1 nước trên bờ cõi của nước sở tại có thẩm quyền “bao bọc lợi ích đất nước và của công dân mình trong dừng của luật pháp quốc tế” đại quát.

Công ước Vienna về quan hệ lãnh sự (1963) quy định chức năng và thẩm quyền lãnh sự của cơ quan đại diện ngoại giao và cơ quan lãnh sự.

Trong các thẩm quyền đó, “thích hợp với thông lệ và giấy má của đất nước sở tại, (cơ quan lãnh sự) có thể đại diện hoặc thu xếp đại diện thích hợp cho công dân nước mình trước tòa án và các cơ quan chức năng của nước sở tại để bắt buộc vận dụng các giải pháp lâm thời thích hợp với luật pháp của đất nước sở tại nhằm bao bọc quyền và lợi ích của công dân nước mình, trong trường hợp người đó không có người đại diện hoặc vì những bởi vì mà người đó chẳng thể thu xếp được người đại diện đúng lúc.”

Bao ho cong dan Doan Thi Huong can phu hop luat phap va thuc tien quoc te
Nghi phạm Đoàn Thị Hương xuất hiện ở Tòa án quận Sepang, bang Selangor (Malaysia) ngày 1/3. (Nguồn: Getty)

Như vậy, có thể thấy luật pháp quốc tế xin hứa các cơ quan đại diện của 1 nước có quyền bao bọc lợi ích của công dân nước mình, nhưng với điều kiện phải trong dừng cho phép của luật pháp quốc tế và thích hợp với thông lệ và luật pháp của đất nước sở tại.

Điều này có nghĩa, các cơ quan đại diện cần tiến hành bảo hộ công dân bằng các giải pháp và bí quyết thích hợp với các quy luật căn bản của luật pháp quốc tế như quy luật đồng đẳng chủ quyền và không can thiệp vào công việc nội bộ của đất nước sở tại. Bên cạnh đó, các giải pháp bảo hộ lại bị dừng trong phạm vi cho phép của luật pháp đất nước sở tại, trong trường hợp công dân Đoàn Thị Hương là luật pháp của Malaysia.

Do bảo hộ công dân nằm trong quan hệ ngoại giao giữa các nước – lĩnh vực được điều chỉnh bởi rất nhiều tập quán và thực tiễn quốc tế kế bên hai Công ước nêu trên – bởi thế cũng cần thích hợp với các tập quán và thực tiễn này, nhằm bảo đảm sự tôn trọng đối với đất nước sở tại và giảm thiểu ảnh hưởng đến quan hệ giữa hai nước đại quát.

Theo Luật cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài năm 2009, nhiệm vụ của cơ quan đại diện (cụ thể là Đại sứ quán Việt Nam tại Malaysia) được quy định tương tự như trong hai Công ước Viên nêu trên. Đại sứ quán Việt Nam tại Malaysia có nhiệm vụ “bảo hộ lãnh sự đối với… quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, pháp nhân Việt Nam… trên hạ tầng tuân thủ luật pháp Việt Nam, luật pháp của đất nước hấp thu và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và đất nước hấp thu là thành viên, thích hợp với luật pháp và thông lệ quốc tế.”

“Trong trường hợp công dân, pháp nhân Việt Nam chẳng thể bao bọc quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo luật pháp và thực tiễn của đất nước hấp thu, cơ quan đại diện có thể lâm thời đại diện hoặc thu xếp người đại diện cho họ tại tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền của đất nước hấp thu cho đến khi có người khác khiến cho đại diện cho họ hoặc họ tự bao bọc được quyền và lợi ích của mình.”

Trong vụ việc liên đới đến Đoàn Thị Hương, thích hợp với thông lệ quốc tế, cơ quan đại diện Việt Nam tại Malaysia đã thực hành đúng chức năng nhiệm vụ của mình liên đới đến bảo hộ công dân Đoàn Thị Hương. Cụ thể, ngay sau khi có nguồn tin liên đới đến việc Malaysia bắt giữ 1 nghi phạm mang hộ chiếu Việt Nam dưới tên Đoàn Thị Hương, Đại sứ quán Việt Nam đã khiến cho việc với cơ quan chức năng sở tại khiến cho rõ các nguồn tin liên đới, theo dõi chặt chẽ để xác minh nguồn tin.

Tuy nhiên, đây là vụ án hiểm nguy do vậy phía Malaysia chưa cho phép tiếp xúc lãnh sự đối với các nghi phạm ngay sau khi bị bắt giữ. Sau đó, Đại sứ quán Việt Nam tại Malaysia đã được phép tiếp xúc lãnh sự và hỏi thăm khỏe khoắn của Đoàn Thị Hương.

Tại phiên tòa ngày 1/3/2017, đại diện Đại sứ quán Việt Nam tại Malaysia đã có mặt để bao bọc lợi quyền hợp pháp cho Đoàn Thị Hương tại phiên tòa. Đại sứ quán Việt Nam tại Malaysia cho biết cũng sẽ tiếp diễn theo dõi vụ việc bảo đảm nước sở tại tiến hành giấy má tố tụng 1 cách công bằng, khách quan, không phân biệt đối xử, bao bọc quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam, trong đó có việc hỗ trợ mua trạng sư thích hợp với quy định luật pháp của nước sở tại.

Cần coi xét kỹ và tiến hành thận trọng

Một trong những quy luật căn bản của luật pháp quốc tế là quy luật không can thiệp vào công việc thuộc thẩm quyền nội bộ của đất nước. Do đó, các hoạt động bảo hộ phải được coi xét kỹ và tiến hành thận trọng nhằm giảm thiểu vượt quá mức hợp lý, gây cản trở hay ảnh hưởng đến việc thực thi các công việc của cơ quan chức năng của nước sở tại.

Bảo hộ công dân cần được tiến hành nhằm mục đích xin hứa công dân Việt Nam được đối xử đúng với quy định của luật pháp sở tại và luật pháp quốc tế, trong đó có luật nhân quyền quốc tế. Cơ quan đại diện cần có địa chỉ và bàn bạc hoặc lên tiếng khi phát hiện công dân của mình có ám hiệu bị đối xử trái luật pháp của nước sở tại hoặc bị vi phạm các quyền con người căn bản (như bị tra tấn, nhục hình, phân biệt chủng tộc trong công đoạn dò la, xét xử).

Bao ho cong dan Doan Thi Huong can phu hop luat phap va thuc tien quoc te
An ninh được thắt chặt bên ngoài phiên tòa xét xử Đoàn Thị Hương hôm 1/3. (Nguồn: Getty)

Về quy luật, vụ việc xảy ra trên bờ cõi nước nào (đặc biệt là vụ hình sự) sẽ do cơ quan có thẩm quyền của đất nước đó dò la, xét xử và các cơ quan đại diện ngoại giao phải tôn trọng thẩm quyền đó của đất nước sở tại. Luật pháp quốc tế và thực tiễn quốc tế củng cố quy luật căn bản rằng các đất nước luôn xác lập thẩm quyền tuyệt đối đối với các vụ án hình sự xảy ra trên bờ cõi nước mình. Việc can thiệp quá mức vào tiến trình tố tụng hình sự, vốn được coi là thẩm quyền chuyên biệt, chỉ của riêng đất nước đó, có thể được xem là can thiệp vào công việc nội bộ.

Trong 1 số trường hợp, giả như các đất nước liên đới giao kèo các hiệp nghị hỗ trợ tư pháp có nội dung dừng dò la, dừng xét xử, chuyển giao bằng chứng và trao trả công dân của mình về nước để xét xử thì cơ quan đại diện có thể bắt buộc đất nước sở tại thực hành các nội dung trên. Tuy nhiên, các hiệp nghị như thế không đa dạng và thường trao quyền quy định cho đất nước sở tại.

Giữa Việt Nam và Malaysia có Hiệp định hỗ trợ tư pháp trong hình sự ASEAN (2004), nhưng không có quy định nào cho phép Việt Nam tham dự vào tiến trình tố tụng hình sự tại Malaysia.

Hiệp định này được giao kèo năm 2004 bắt buộc các đất nước ASEAN, trong đó có Malaysia, dành cho nhau những giải pháp hỗ trợ tư pháp đa dạng nhất có thể trong việc dò la, truy tố và các giấy má tiếp theo của vụ án hình sự (Điều 1).

Tuy nhiên, Hiệp định này cũng chỉ rõ Hiệp định không vận dụng đối với việc “chuyển giao người giam cấm để thi hành quyết phạt” hay “chuyển giao vụ án hình sự” (Điều 2).

Mặt khác, Điều 3 khoản 1 điểm a của Hiệp định này nêu rõ, đất nước được bắt buộc có thể chối từ việc hỗ trợ giả như xét thấy “bắt buộc hỗ trợ liên đới đến việc dò la, truy tố hoặc trừng trị 1 người về 1 tội mà tội đó, hoặc xét tình tiết phạm tội, là phạm nhân mang thuộc tính chính trị”.

Trong trường hợp này, Malaysia có thể chối từ cung cấp hỗ trợ tư pháp cho Việt Nam vì thuộc tính chính trị của vụ việc theo những ám hiệu nhanh nhất. Mặt khác, Hiệp định không liên đới đến việc hỗ trợ dẫn độ phạm nhân hoặc chuyển giao vụ án hình sự, bởi thế, cũng không có hạ tầng cho việc đưa Đoàn Thị Hương về nước xét xử theo quy luật thẩm quyền theo quốc tịch.

Về mặt thông lệ quốc tế, trong bối cảnh toàn cầu hóa nhanh bây giờ, luồng dân cư chuyển dịch xuyên biên cương rất lớn, vấn đề bảo hộ công dân cũng phát triển thành đa dạng và đã hình thành các thông lệ mà đa số các đất nước đều bằng lòng như chuẩn mực chung trong hoạt động bảo hộ.

Theo đó, hoạt động bảo hộ thường ở dạng tiếp xúc lãnh sự, gặp gỡ lãnh sự hoặc đại diện lãnh sự là chính yếu. Mục đích của hoạt động này là nhằm nắm bắt nguồn tin, coi xét cảnh ngộ của công dân và bí quyết công dân được chính quyền sở tại đối xử cũng như có những hỗ trợ bản chất hơn cho công dân. Rất hãn hữu trường hợp cơ quan đại diện hoặc đất nước cử người đại diện luật pháp cho công dân của mình trước cơ quan chức năng nước sở tại.

Do đặc biệt Indonesia có hơn 2 triệu cần lao nhập cư tại Malaaysi nên nước này thiết lập 1 phòng ban pháp lý trong Đại sứ quán Indonesia ở Malaysia và thuê trạng sư túc trực người Malaysia để xử lý các vấn đề cần lao, dân sự và cả hỗ trợ tư pháp của hàng triệu công dân Indonesia ở Malaysia.

Trong vụ việc này, tham dự bao bọc quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Indonesia Siti Aisyah là các trạng sư Malaysia từ tổ chức luật Gooi&Azzura và trạng sư người Malaysia khiến cho việc cho phòng ban pháp lý đề cập trên của Đại sứ quán Indonesia tại Malaysia chứ không phải các trạng sư Indonesia.

Ở chừng độ cao hơn, về mặt quy luật, giả như 1 nước cho rằng nước sở tại có các hành vi vi phạm các sứ mạng pháp lý quốc tế khiến cho cho công dân của mình bị đối xử sai lầm và các nỗ lực địa chỉ, bàn bạc lãnh sự không có kết quả, nước đó có thể viện dẫn bảo hộ ngoại giao để khởi kiện nước sở tại ra cơ quan tài phán quốc tế. Tuy nhiên, tình hình sự việc cho đến nay không cho thấy ám hiệu về việc công dân Đoàn Thị Hương bị đối xử sai lầm.

Hơn nữa, trên thực tại rất ít đất nước bằng lòng thẩm quyền của cơ quan tài phán quốc tế để xét xử 1 vụ kiện bảo hộ ngoại giao và 1 vụ kiện tương tự có thể ảnh hưởng bị động đến quan hệ hai nước.

Vụ án trong đó Đoàn Thị Hương là 1 nghi phạm có thuộc tính đặc biệt hiểm nguy và phức tạp, liên đới đến công dân nhiều đất nước. Do đó, việc bảo hộ công dân cần được tiến hành cẩn thận, thận trọng, thích hợp với luật pháp Malaysia, luật pháp quốc tế nhằm xin hứa công dân Đoàn Thị Hương không bị oan sai hay đối xử phi nhân đạo, đồng thời bảo đảm quan hệ giữa các nước không bị những ảnh hưởng bị động.

Theo Báo Quốc Tế